Hiển thị các bài đăng có nhãn Dinh Duong. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dinh Duong. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Một số lưu ý về chế độ dinh dưỡng theo từng độ tuổi cho bé

Trong năm đầu đời, bé sẽ trải qua nhiều giai đoạn nên chế độ dinh dưỡng là khác nhau: từ sơ sinh đến 4 tháng, từ 4-6 tháng tuổi, từ 6-8 tháng tuổi, từ 8-10 tháng tuổi, và từ 10 đến 12 tháng tuổi.

MarryBaby giới thiệu cho bạn chế độ ăn uống cho bé thuộc 5 nhóm tuổi:
- Từ sơ sinh đến 4 tháng
- Từ 4-6 tháng tuổi
- Từ 6-8 tháng tuổi
- Từ 8-10 tháng tuổi
- Từ 10-12 tháng tuổi.


Với mỗi giai đoạn phát triển của bé từ sơ sinh đến 12 tháng, bạn có thể sử dụng hướng dẫn này để biết nên cho bé ăn gì, khối lượng thức ăn bao nhiêu. Nếu bé ăn nhiều hơn hoặc ít hơn số lượng được liệt kê cũng không cần lo lắng vì các thông tin chỉ là hướng dẫn cơ bản để tham khảo.
Trong giai đoạn cho bé tập ăn dặm, bạn có thể linh hoạt chứ không nên tuân theo thứ tự một cách cứng nhắc. Nếu bạn muốn cho bé nếm đậu phụ ở 6 tháng tuổi, có thể thử mà không cần chờ tới 8 tháng như thông tin trong bài viết.
Tuy nhiên, các mẹ được khuyến cáo là nên đợi bé được 1, thậm chí 3 tuổi trước khi cho bé thử các loại thực phẩm có khả năng gây dị ứng cao như trứng, cá và đậu phộng. Mặc dù chưa thể khẳng định việc trì hoãn này có thể ngăn ngừa được việc bé bị dị ứng thực phẩm, nhưng nhiều bác sĩ nhi khoa vẫn khuyên bạn nên chờ đến khi bé lớn hơn, đặc biệt với các bé bị bệnh chàm hoặc gia đình có tiền sử với dị ứng. Bạn có thể tham khảo ý kiến của bác sĩ về dinh dưỡng nếu cần thiết.
Giai đoạn từ sơ sinh đến 4 tháng
Hành vi ăn
• Bản năng sẽ khiến bé quay về phía núm vú của mẹ để tìm nguồn dinh dưỡng.
Thức ăn cho bé
• Chỉ nuôi con bằng sữa mẹ hoặc sữa công thức.
Lời khuyên
• Đường tiêu hóa của bé vẫn đang phát triển nên giai đoạn này bạn chưa nên cho bé ăn thức ăn đặc.
Giai đoạn từ 4-6 tháng tuổi
Dấu hiệu sẵn sàng để ăn thức ăn dặm
Bạn có thể cho bé thử nghiệm thức ăn dặm nếu bé:
• Có thể kiểm soát các cử động của đầu và cổ.
• Có thể ngồi lên với sự giúp đỡ của người thân.
• Có thể giả vờ nhai.
• Tăng cân lên gấp 2 lần so với lúc mới sinh.
• Thể hiện sự thích thú với thức ăn.
• Có thể ngậm một cái muỗng.
• Có thể dùng lưỡi để di chuyển thức ăn từ trước ra sau miệng.
• Có thể đẩy lưỡi qua lại.
• Có vẻ đói sau khi đã bú mẹ 8-10 lần hoặc sau khi đã uống khoảng 1 lít sữa công thức trong một ngày.
• Mọc răng.
Thức ăn cho bé
• Sữa mẹ hoặc sữa bột.
• Thức ăn xay nhuyễn như khoai lang, bí, táo, chuối, đào hoặc lê và ngũ cốc hơi sệt.
Liều lượng mỗi ngày
• Bắt đầu với khoảng 1 muỗng cà phê thức ăn hoặc ngũ cốc xay nhuyễn, trộn ngũ cốc với 4-5 muỗng cà phê sữa mẹ hoặc sữa công thức.
• Tăng thêm khẩu phần với 1 thìa thức ăn xay nhuyễn hoặc 1 muỗng canh bột ngũ cốc trộn với sữa mẹ hoặc sữa công thức, hai lần/ngày. Nếu cho bé ăn ngũ cốc, từ từ cho ít sữa lại để tăng độ đặc.
Lời khuyên
• Nếu lúc đầu bé không chịu ăn ngũ cốc, nên để một vài ngày rồi thử lại.

Giai đoạn 6-8 tháng tuổi
Dấu hiệu sẵn sàng để ăn thức ăn dặm
• Tương tự như khi bé 4-6 tháng.
Thức ăn cho bé
• Sữa mẹ hoặc sữa công thức.
• Các loại ngũ cốc giàu chất sắt (gạo, lúa mạch, yến mạch).
• Trái cây xay nhuyễn hoặc nấu nhừ (chuối, lê, táo, đào).
• Rau xay nhuyễn hoặc nấu nhừ (bơ, cà rốt nấu chín, bí, khoai lang).
• Thịt xay nhuyễn (thịt gà, thịt heo, thịt bò).
• Đậu phụ xay nhuyễn.
• Các loại đậu xay nhuyễn (đậu đen, đậu xanh, đậu tằm, đậu đen, đậu lăng..).
Liều lượng mỗi ngày
• 3-9 muỗng canh ngũ cốc, cho bé ăn từ 2-3 lần.
• 1 muỗng cà phê trái cây, tăng dần đến 1/4 đến 1/2 chén trong 2-3 lần.
• 1 muỗng cà phê rau, dần dần tăng lên 1/4 đến 1/2 chén trong 2-3 lần.
Lời khuyên
• Sau khi cho bé thử một món mới, nên ngưng và đợi một vài ngày để biết được bé có hợp hay bị dị ứng với món đó không
Giai đoạn 8-10 tháng tuổi
Dấu hiệu sẵn sàng để ăn thức ăn dặm và ăn bốc
• Tương tự như khi bé 6-8 tháng.
• Bé thích dùng tay bốc thức ăn.
• Bé có thể chuyển các đồ vật từ tay này sang tay khác.
• Bé muốn bỏ mọi thứ vào miệng.
• Chuyển động hàm khi nhai.
Thức ăn cho bé
• Sữa mẹ hoặc sữa bột.
• Một lượng nhỏ phô mai mềm tiệt trùng, sữa chua, phô mai (tuy nhiên, không nên dùng sữa bò cho đến khi bé được 1 tuổi).
• Các loại ngũ cốc giàu chất sắt (gạo, lúa mạch, lúa mì, yến mạch, ngũ cốc hỗn hợp).
• Trái cây và rau quả (chuối, đào, lê, bơ, cà rốt nấu chín, bí, khoai tây, khoai lang).
• Các loại thực phẩm bé có thể cầm tay và ăn (bánh mì nướng cắt nhỏ, chuối chín cắt lát, nui nấu chín, bánh quy giòn, bánh ngũ cốc ít đường hình chữ O).
• Một lượng nhỏ thực phẩm giàu đạm (trứng, thịt xay nhuyễn, thịt gia cầm, cá không xương, đậu phụ, đậu Hà Lan, đậu đen).
Liều lượng mỗi ngày
• 1/4 đến 1/3 chén bơ sữa .
• 1/4 đến 1/2 chén ngũ cốc bổ sung chất sắt.
• 1/4 đến 1/2 chén trái cây.
• 1/4 đến 1/2 chén rau.
• 1/8 đến 1/4 chén thức ăn giàu đạm.
Lời khuyên
• Sau khi cho bé thử một món mới, nên ngưng và đợi một vài ngày để biết được bé có hợp hay bị dị ứng với món đó không.
Giai đoạn 10 đến 12 tháng tuổi
Dấu hiệu sẵn sàng để ăn thức ăn dặm
• Tương tự như khi bé 8-10 tháng.
• Bé nuốt thức ăn dễ dàng hơn.
• Bé mọc răng.
• Bé không còn đẩy thức ăn ra khỏi lưỡi.
Thức ăn cho bé
• Sữa mẹ hoặc sữa bột.
• Phô mai mềm tiệt trùng, sữa chua, phô mai (không nên dùng sữa bò cho đến khi 1 tuổi).
• Các loại ngũ cốc giàu sắt.
• Trái cây nghiền hoặc bóc vỏ và cắt thành từng miếng vuông.
• Rau hấp cho chín mềm, cắt thành miếng nhỏ.
• Các món ăn kết hợp (mì ống và phô mai, thịt hầm).
• Thực phẩm giàu chất đạm.
• Thực phẩm cho bé ăn bốc.
Liều lượng mỗi ngày
• 1/3 chén bơ sữa.
• 1/4 đến 1/2 chén ngũ cốc giàu sắt.
• 1/4 đến 1/2 chén trái cây.
• 1/4 đến 1/2 chén rau.
• 1/8 đến 1/4 chén thức ăn kết hợp.
• 1/8 đến 1/4 chén thức ăn giàu đạm.
Lời khuyên
• Sau khi cho bé thử một món mới, nên ngưng và đợi một vài ngày để biết được bé có hợp hay bị dị ứng với món đó không.

Gợi ý một số chất dinh dưỡng cần thiêt cho trẻ

Để cho trẻ được phát triển một cách toàn diện thì cần bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết. Các chất dinh dưỡng này tác động đến sự phát triển xương, trí não của trẻ cũng như giúp trẻ phát triển ổn định và toàn diện hơn.



Canxi

Protein, chất béo, chất khoáng, vitamin là những nhóm dinh dưỡng cần cung cấp hằng ngày cho trẻ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển ấy canxi là chất kích thích sự phát triển xương và trí não giúp bé có sự tăng trưởng toàn diện hơn. Trẻ em khi thiếu canxi sẽ bị xương nhỏ, yếu xương, chậm lớn, lùn, còi xương, xương biến dạng, răng không đều, răng bị dị hình, chất lượng răng kém và bị sâu răng. Ngoài ra, canxi có vai trò quan trọng trong dẫn truyền thần kinh.

Trẻ em thiếu canxi thường có biểu hiện khóc đêm, đêm ngủ giật mình hay quấy khóc, dễ nổi cáu, rối loạn chức năng vận động, không tập trung tinh thần. Canxi còn là chất quan trọng tham gia hệ miễn dịch của cơ thể. Chính vì vậy, cần phải bổ sung đầy đủ canxi cho trẻ ngay từ khi trẻ ở trong bụng mẹ đến khi chào đời và trong suốt quá trình phát triển cơ thể.


Ảnh: Sưu tầm Internet

Bổ sung đầy đủ dưỡng chất để con cao lớn và khoẻ mạnh
Kẽm

Khi nhắc đến thành phần dinh dưỡng bổ sung cho trẻ, ít mẹ nghĩ đến kẽm. Nhưng kẽm đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển khứu giác của trẻ, giúp duy trì và bảo vệ các tế bào vị giác và khứu giác.

Thiếu kẽm, sự chuyển hóa của các tế bào vị giác bị ảnh hưởng, gây biếng ăn do rối loạn vị giác. Trẻ em biếng ăn sẽ bị suy dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển. Đối với những trẻ chậm lớn, suy dinh dưỡng, còi xương được bổ sung kẽm sẽ có tác động tích cực cải thiện rõ rệt về cả cân nặng và chiều cao.

Kẽm là chất xúc tác không thể thiếu của quá trình phân chia tế bào, thúc đẩy sự tăng trưởng. Do đó nếu thiếu kẽm, sự phân chia tế bào sẽ khó xảy ra nên ảnh hưởng trầm trọng tới sự tăng trưởng. Ngoài ra, kẽm còn tham gia vào quá trình sinh tổng hợp và điều hòa chức năng của hormone GH, IGF-I là những hormone tăng trưởng và kích thích tăng trưởng.

Ngoài kèm thì lysine cũng là acid amin thiết yếu giúp trẻ ăn ngon miệng, gia tăng chuyển hóa, hấp thu tối đa dinh dưỡng, duy trì canxi và tăng trưởng chiều cao. Việc thiếu hụt chất này có thể khiến trẻ chậm lớn, biếng ăn, thiếu men tiêu hóa và nội tiết tố

Vitamin D3

Là dạng tự nhiên của vitamin D có chức năng điều chỉnh chuyển hóa canxi và phosphat, là thành phần chống còi xương mạnh, hỗ trợ hấp thu canxi. Cơ thể có thể tự tổng hợp vitamin D3 khi được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời tuy nhiên do phong tục kiêng cữ ở nước ta nên hầu hết trẻ sơ sinh đều không được tiếp xúc với ánh sáng mặt trời do đó đều bị thiếu vitamin D3.

Dinh dưỡng và thực đơn mẫu cho bé từ 2 - 3 tuổi

Một số mẹ thường băn khoăn không biết nên chọn thực đơn cho bé trong giai đoạn 2 - 3 tuổi như thế nào là hợp lý. Sau 2-3 tuổi đa số các bé đã cai sữa mẹ, bé cũng không còn ăn bột, cháo nữa và bé đã có thể "vô tư" ăn các loại thức ăn cứng. Điều quan trọng lúc này là một chế độ ăn đa dạng, đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể bé.



Để cung cấp đủ dưỡng chất cần thiết ở lứa tuổi này một ngày các bạn cần cho bé ăn như sau:

- 2-3 bữa cơm nát nhưng phải đủ 4 nhóm chất bao gồm: chất bột (gạo, đỗ, mỳ...), chất đạm (thịt, cá, tôm, cua, trứng...), chất béo (dầu ăn, mỡ), vitamin và chất khoáng. Bạn lưu ý nhóm chất béo cần được cung cấp đủ, việc thiếu chất béo cũng dẫn tới việc hấp thu một số các vitamin (A, D, E, K) bị hạn chế, vì đó là các vitamin tan trong dầu.

- 2-3 bữa phụ bao gồm: sữa, sữa chua, súp, bún, phở, bánh ngọt...thay đổi. Lứa tuổi này nguồn cung cấp năng lượng từ sữa vẫn rất quan trọng, mỗi ngày bạn nên cho bé uống khoảng 500-600 sữa (có thể gồm sữa công thức, sữa chua, sữa tươi...).


Vẫn luôn cho bé uống sữa và các chế phẩm của sữa hàng ngày.

- 1-2 bữa hoa quả chín hoặc nước hoa quả sau mỗi bữa ăn theo nhu cầu của bé.

Trong đó lượng thực phẩm trong một ngày cho bé ở lứa tuổi này là: 150-200g gạo, 120-150g thịt, hoặc 150-200g cá, tôm… và 3-4 quả trứng mỗi tuần), 150-200g rau xanh, 30-40g dầu ăn hoặc mỡ.



Thực đơn mẫu một tuần cho bé:


21 thực đơn ăn dặm cho bé 6 tháng tuổi

Ngoài sữa mẹ ra thì việc bổ sung khẩu phần ăn dặm cho bé là rất quan trọng phải lữa chọn sao cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của bé. Bài này chúng tôi muốn chia sẻ với các mẹ một số gợi ý về khẩu phần ăn cho trẻ 6 tháng tuổi



1. Nước dưa hấu

Nguyên liệu:
Ruột dưa hấu 100
Đường trắng 10g
Cách làm:
Cho ruột dưa hấu vào bát, dùng thìa dầm nát, lọc lấy nước. Cho thêm chút đường trắng vào, khuấy đều là được.

2. Nước cam ( quýt) tươi

Nguyên liệu
Cam (quýt) tươi
Đường trắng, nước ấm vừa đủ.
Cách làm:
Rửa sạch cam, quýt, bổ thành hai nửa, cho vào máy xay sinh tố ép lấy nước, cho thêm chút nước ấm và đường trắng khuấy đều.

3. Nước cà chua

Nguyên liệu:
Cà chua tươi
Đường trắng và nước ấm vừa đủ.
Cách làm:
Rửa sạch cà chua, chần qua nước sôi rồi bóc vỏ, bỏ hạt, ép lấy nước. Cho đường trắng vào, khuấy đều với nước ấm là được.

4. Nước rau dền

Nguyên liệu:
Rau dền 100g
Muối tinh một ít
Nước 100ml
Cách làm:
Rửa sạch rau dền, thái vụn.
Đặt nồi lên bếp, đun nước sôi, cho rau dền vào, thêm chút muối tinh, đun khoảng 5- 6 phút, bớt lửa om tiếp 10 phút, lọc bỏ xác rau và nước cặn là được.

5. Nước rau muống

Nguyên liệu:
Lá rau muống tươi non 100g
Muối tinh một ít.
Nước 100ml
Cách làm:
Rửa sạch rau muống, thái vụn.
Cho nước vào đun sôi, cho rau muống vào, thêm muối tinh đun 5 – 6 phút, tắt lửa, ninh thêm 10 phút, đổ nước ra là có thể uống.

6. Bột rau củ

Các loại rau củ như rau cải, bí đỏ, bí xanh, cà rốt, rau muống…., chọn khoảng 50 – 100g thật tươi non, rửa sạch, ngâm qua nước muối rồi thái vụn. Cho nửa bát nước to vào nồi đun sôi, bỏ rau củ vào đun lửa to, sôi khoảng 6 -7 phút rồi ngừng, đổ canh và rau vào máy xay nhuyễn rồi lọc bỏ xơ, thêm chút muối hoặc đường là có thể ăn.

7. Cà rốt, hoa lơ trắng

Khoai tây 100g
Cà chua 1 quả
Nước, đường trắng (hoặc muối tinh) vừa đủ.
Cách làm:
Khoai tây rửa thật sạch, loại bỏ những chấm đen (nếu có), cho 120ml nước vào đun cho chín nhừ, rồi nghiền nhuyễn.
Cà chua trần qua nước sôi, sau đó rửa lại bằng nước lọc, bóc vỏ, bỏ hết hạt, thái nhỏ rồi cho vào nồi đun nhỏ trong 2 phút. Xay nhuyễn.
Cà rốt gọt vỏ, thái nhỏ, đổ nước sôi vào đun trong 10 phút. Sau đó thêm hoa lơ trắng vào đun tiếp 10 phút nữa. Vớt ra để ráo rồi xay nhuyễn, lọc qua rây, thêm chút đường hoặc muối tinh là có thể dùng được.

8. Cà rốt - Đậu Hà Lan

Nguyên liệu :
Cà rốt 200g
Đậu Hà Lan 40g
Nước, đường trắng (hoặc muối tinh) vừa đủ.
Cách làm:
Đổ nước sôi vào nồi, cho cà rốt vào đun trong 15 phút. Sau đó thêm đậu Hà Lan và đun tiếp trong 5 phút. Xay nhuyễn thêm chút đường hoặc muối tinh vừa đủ rồi cho bé ăn.

9. Xúp cà rốt, củ cải, khoai tây

Nguyên liệu:
Cà rốt 40g
Củ cải trắng 40g
Khoai tây 40g
Nước, đường trắng (hoặc muối tinh) vừa đủ
Cách làm:
Cà rốt, củ cải trắng, khoai tây rửa sạch, thái nhỏ. Cho nước vào nồi rồi cho toàn bộ rau vào đun đến khi rau nhừ. Vớt ra xay nhuyễn rồi lọc qua rây, thêm đường hoặc muối tinh vừa đủ là được.



10. Bột chuối tiêu

Nguyên liệu:
Chuối tiêu chín nục 1 quả
Đường trắng, vài giọt nước cốt chanh.
Cách làm:
Rửa sạch chuối, bỏ vỏ
Cắt chuối thành miếng nhỏ, xay nhuyễn, thêm đường trắng, cho mấy giọt nước chanh, trộn đều, đổ vào bát con là có thể ăn được.

11. Bột táo đỏ

Nguyên liệu:
Táo đỏ 100g
Đường trắng 20g
Cách làm:
Rửa sạch táo, cho vào nồi. thêm nước đun 15 – 20 phút cho đến khi táo chín nhừ.
Bỏ vỏ táo, hạt táo, thêm đường trắng, khuấy đều là có thể ăn được.

12. Bột cà rốt, táo đỏ

Nguyên liệu:
Cà rốt 75g
Táo đỏ 50g
Mật ong vừa đủ
Cách làm:
Cà rốt và táo gọt vỏ, thái vụn. Đung sôi nước, cho cà rốt và táo vào nấu nhừ, thêm mật ong, đảo đều là được.

13. Bột táo – Khoai lang

Nguyên liệu:
Khoai lang 50g
Táo tàu 50g
Mật ong vừa đủ
Cách làm:
Khoai lang và ráo rửa sạch, gọt vỏ, thái vụn, luộc chín mềm, để nguội rồi xay nhuyễn, lọc bỏ xơ thêm một chút ít mật ong, trộn đều là được.

14. Bột đào

Nguyên liệu:
Đào chín 1 quả
Nước, đường trắng vừa đủ
Cách làm:
Chần đào trong nước sôi một phút, sau đó rửa bằng nước lọc, gọt vỏ, thái nhỏ, bỏ hạt. Xay nhuyễn lọc qua rây, thêm đường vừa ăn.

15. Đào, táo, lê

Nguyên liệu:
Táo đỏ, đào chín, lê mỗi loại 50g
Nước, đường trắng vừa đủ.
Cách làm:
Táo, đào, lê rửa sạch, gọt vỏ, bỏ hạt, thái nhỏ. Cho vào nồi đun sôi với 100ml nước, nhỏ lửa trong khoảng 8 phút. Thêm đào và lê vào, đun sôi thêm 3 – 4 phút nữa. Xay nhuyễn và lọc qua rây, thêm chút đường cho vừa ăn là được.

16. Bột sữa – Bí đỏ

Nguyên liệu:
Bột gạo 10g
Sữa bột - loại bé vẫn thường dùng 12g
Bí đỏ 30g
Dầu 2.5g
Đường 10g
Nước 200ml
Cách làm:
Bí đỏ luộc chín, xay nhuyễn.
Lấy chút nước lạnh khuấy với 10g bột cho tan đều, thêm bí đỏ, đường và phần nước còn lại vào, bắc lên bếp lửa nhỏ, khuấy đều cho đến khi bột chín.
Cho bột ra bát, thêm ½ thìa cà phê dầu trộn thật đều sau đó mới cho từ từ sữa bột béo vào.
Bé ăn từ 1/3 đến 1 bát mỗi ngày.

17. Bột trứng – cà rốt

Nguyên liệu:
Bột gạo 10g
Trứng gà 15g (1/2 lòng đỏ)
Cà rốt 20g
Dầu 5g
Nước 200ml
Cách làm:
Cà rốt nấu chín, xay nhuyễn
Trứng gà: Đánh đều lòng đỏ
Cho 10g bột vào ít nước khuấy tan đều, thêm vào phần nước còn lại cùng với trứng, bí đỏ, đường.
Bắc lên bếp lửa nhỏ, khuấy đều tay đến khi bột chín cho ra bát thêm vào 1 thìa cà phê dầu trộn đều.


18. Bí xanh nấu chín xay nhuyễn

Đậu phụ xay nhuyễn
Hòa 10g bột gạo với chút nước, thêm hỗn hợp trên vào phần nước còn lại, bí xanh, tàu hũ, đường, bắc lên bếp lửa nhỏ, khuấy đến khi chín. Cho ra bát thêm vào thìa cà phê trộn đều, nêm nước mắm ngon hoặc muối iốt vừa ăn.

19. Bột lòng đỏ trứng gà - đậu phụ

Nguyên liệu:
Bột gạo 20g
Đậu phụ 30g
Lòng đỏ trứng gà 15g
Dầu 5g
Nước 200ml
Cách làm:
Cho đậu phụ vào nước sôi đun 1 phút, để ráo, nghiền nhuyễn, sau đó cho lòng đỏ trứng vào đảo đánh đều.
Cho 10g bột vào ít nước khuấy cho tan đều, thêm vào phần nước còn lại cùng với trứng và đậu phụ.
Bắc lên bếp nhỏ lửa, cho ra bát thêm 1 thìa cà phê dầu trộn đều, nêm nước mắm ngon hoặc muối iốt vừa ăn.

20. Bột khoai tây, bí đỏ, thịt gà

Nguyên liệu:
Bột gạo 10g
Thịt gà 15g
Bí đỏ 15g
Khoai tây 15g
Cách làm:
Bí đỏ, khoai tây gọt vỏ, thái nhỏ, luộc chín, xay nhuyễn.
Thịt gà lọc kĩ, xay nhuyễn, khuấy đều trong 30ml nước lạnh.
Hòa tan 10g bột trong một chút nước.
Nấu chín thịt với phần nước còn lại, cho bí đỏ và bột gạo đã hòa tan vào khuấy đều cho đến khi bột chín.
Cho bột ra bát thêm vào một thìa cà phê dầu trộn thật đều, nêm nước mắm hoặc muối iốt vừa ăn.

21. Bột gan lợn - Cải xanh

Nguyên liệu:
Bột gạo 10g
Gan lợn 20g
Rau cải xanh 20g
Nước 200ml
Cách làm:
Rau cải xanh thái nhỏ, băm hoặc xay nhuyễn.
Gan lợn xay nhuyễn, khuấy đều trong 30ml nước lạnh.
Hòa tan 10g bột gạo trong chút nước.
Nấu chín gan với phần nước còn lại, cho rau cải xanh và bột gạo đã hòa tan vào khuấy đều cho đến khi bột chín.
Cho bột ra bát thêm vào 1 thìa cà phê dầu trộn thật đều, nêm nước mắm hoặc muối iốt, nêm nhạt hơn người lớn một chút.

Bí quyết nấu cháo cho trẻ dưới một tuổi

Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Tuy nhiên, ăn dặm là cách tốt nhất để cung cấp đủ dưỡng chất cho trẻ cứng cáp hơn. Bột hoặc cháo là thức ăn dặm mà các bác sĩ khuyên các bà mẹ. Theo tháng tuổi, lượng thành phần trong cháo có thể thay đổi, còn cách nấu thì tương tự như nhau. Khi nấu cháo cho trẻ, các bà mẹ cần lưu ý những vấn đề sau:



1.  Một số dụng cụ đơn giản dùng để đong đếm khi nấu cháo: 

- 1 bát ăn cơm = 200ml nước: dùng để đong nước.

- 1 thìa súp gạo = 5 g gạo xay vỡ.

- 1 thìa súp thịt = 10g thịt.

- 1 thìa súp rau = 5 g rau.

2. Cháo cho bé mới tập ăn dặm (từ 4 tháng đến 6 tháng)

Nguyên liệu:

- 2 bát nước = 400 ml

- 5g gạo xay vỡ

- 10 g thịt lợn thăn 

- 2 thìa súp rau ngót

- 1 thìa cà phê dầu ăn chuyên dành cho trẻ.

Lưu ý ở tuổi này: 

- Rau chỉ ăn lá, không dùng cuống cứng.

- Gạo dùng nấu cháo là gạo tám xay vỡ, thường không pha thêm bất cứ loại hạt gì, không pha gạo nếp. 

- Chưa nên ăn nước mắm vào cháo, nếu có chỉ cho vài giọt.

Cách nấu:

- Cho nước vào với gạo nấu trên bếp. Khi cháo sôi thì đun thật nhỏ lửa cho khỏi bị trào và cháo nhanh nhừ. Cho thịt nạc băm nhỏ vào ninh cùng với cháo.

- Rau ngót thái chỉ băm nhỏ rồi cho vào cối giã lọc lấy nước cốt. Khi cháo chín thì cho tiếp nước cốt rau vào. 

- Trước khi cho trẻ ăn, cho 1 thìa cà phê dầu ăn vào cháo nóng.

- Ở lứa tuổi này, ngày ăn 1-2 bát cháo, đồng thời bổ sung 600-800ml sữa mới là đủ dinh dưỡng.

alt


3. Cháo cho bé từ 7-10 tháng

- Các nguyên liệu tăng dần theo khẩu phần ăn của con bạn, ở tuổi này bạn có thể chế thêm mắm vào cháo cho bé. 

- Cháo có thể nấu đặc chứ không loãng như thời kỳ trước. 

- Lượng thịt tăng lên 1,5 thìa, gạo 3 thìa súp = 15g, rau thì có thể băm nhỏ và nấu trực tiếp với cháo chú không cần giã lấy nước cốt. 

- Nếu ăn trứng gà thì chỉ ăn lòng đỏ, trên 1 tuổi thì mới nên ăn cả lòng trắng. Một lòng đỏ trứng bằng 20g thịt. Trứng đánh tan với rau và cũng cho vào khi cháo chín nhừ. 

- Rau ngót có thể thay bằng rau cải, bí đỏ.

- Ở tuổi này ăn 2-3 bát bột 1 ngày và cộng thêm 600-700ml sữa. 

4. Cháo cho bé từ 10-12 tháng

- Các thành phần nguyên liệu tăng dần theo tháng tuổi. Thịt lợn 2 thìa = 20g. 4 thìa súp gạo = 20g. Bạn có thể thay thịt lợn bằng tôm, cua, thịt bò, lươn. 

- Nên cho trẻ ăn thêm mỡ, tốt nhất là mỡ gà với tỉ lệ tương tự như dầu ăn.

- Nếu lứa tuổi này ăn cua đồng thì bạn lấy 5 con cua, giã ra được 60 g cua, lọc ra 1 bát nước đầy được 30g cua là đủ cho khẩu phần cháo của bé. Trong các thực phẩm này đã đủ canxi nên các bà mẹ không cần ninh xương lấy nước, vì muốn có canxi phải ninh xương nát nhừ rất mất thời gian.

- Ở độ tuổi này, trẻ nên ăn một ngày 3 bát cháo và uống 700-800ml sữa.

Những điều cần biết khi cho bé ăn dặm

Vào thời điểm bắt đầu ăn dặm phụ thuộc tốc độ tăng cân của trẻ. Nếu bé 4 tháng tuổi tăng 200 g mỗi tuần thì có thể lùi thời điểm ăn dặm đến tháng thứ 5 hoặc thứ 6. Nếu không đạt mức tăng trưởng này, bé cần được tập ăn dặm ngay vì sữa mẹ không còn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng.
Trong trường hợp trẻ đòi thức ăn khi nhìn mọi người ăn uống, có thể thử cho bé uống chút nước canh, nước cháo hoặc trái cây. Đây cũng là thời gian tập cho bé ăn dễ dàng nhất.



Các nhà nhi khoa cho biết, thời điểm tốt nhất để tập cho trẻ ăn dặm là khi bé được 4-6 tháng tuổi. Không nên để đến khi trẻ được 7-8 tháng tuổi vì lúc này, bé đã quá quen với việc bú sữa, khó chấp nhận các thực phẩm có mùi vị và độ đậm đặc khác sữa, cũng không quen với cách ăn bằng thìa. Khi này, việc tập cho bé ăn dặm sẽ rất khó khăn. Sau đây là lời giải đáp cho một số câu hỏi về vấn đề ăn dặm:

1. Tập cho bé ăn dặm như thế nào?
Thực phẩm để tập ăn cần đơn giản, dễ làm. Bạn đừng chú ý đến thành phần dinh dưỡng vội vì điều quan trọng lúc này là tập cách ăn, giúp bé quen với độ đặc, vị thức ăn mới và ăn bằng thìa thay vì bú mút. Các thức ăn đầu tiên có thể là:
- Chuối hoặc đu đủ, xoài chín mềm nạo bằng thìa.
- Một miếng khoai lang hoặc khoai tây nhỏ nấu chín mềm, tán nhuyễn, trộn với vài thìa sữa mẹ hoặc loại sữa bò bé đang bú.
- Một thìa bột ăn liền của trẻ em pha loãng với nước ấm hoặc sữa, 1 thìa nước cơm hòa với sữa.
- Tán nhuyễn vài thìa bí đỏ, bí xanh từ nồi canh gia đình.
Đầu tiên, cần chọn một trong các thứ trên cho bé nếm thử từng chút một. Nếu bé chịu ăn, có thể tăng dần lên 1-3 thìa nhỏ. Nên tập lúc bé đói; sau đó vẫn cho bú bình thường đến khi đủ no.
Khi bé đã quen với thức ăn đầu tiên, hãy cho bé nếm loại mới với cách như trên. Dần dần, bé sẽ quen với nhiều mùi vị, độ đặc khác nhau của thức ăn. Nên tập từ ít đến nhiều, từ loãng đến sền sệt rồi đặc hơn để bé dần dần thích nghi. Mỗi loại thức ăn mới cần tập trong 3-5 ngày mới chuyển sang thức khác. Thời gian này đủ để bé làm quen với thực phẩm, giúp mẹ phát hiện ra loại thức ăn gây dị ứng cho trẻ để loại trừ.
2. Ǎn dặm bao nhiêu là đủ?
- Trẻ 4-6 tháng: Lúc đầu chỉ cần ăn 1 bữa, mỗi bữa vài thìa (tăng dần) và cho bú thêm ngay sau khi ăn. Đến khoảng 5 tháng rưỡi, 6 tháng, có thể tăng thêm 2 bữa mỗi ngày, mỗi bữa khoảng nửa bát. Các cữ sữa vẫn phải duy trì đủ theo yêu cầu của bé.
- Từ 6 đến 9 tháng: Ăn bột 2 bữa/ngày, mỗi bữa khoảng 1/2-2/3 bát với đủ 4 nhóm thực phẩm. Vẫn cho bú sữa nhiều lần, bú đêm cho đủ nhu cầu tăng trưởng.
- Từ 9 đến 12 tháng: Ăn bột, cháo đặc 2-3 bữa mỗi ngày với khoảng 2/3 bát mỗi bữa. Ǎn thêm trái cây tươi và các loại thức ăn mềm như pho mát, bánh flan, rau câu, tào phớ đường. Sữa vẫn không thể thiếu trong khẩu phần hằng ngày của bé.
Nói chung, lượng ăn của mỗi bé khác nhau tùy theo khả năng tiêu hóa, hấp thu. Có trẻ ăn nhiều hơn bú, cũng có trẻ bú nhiều hơn ăn. Vì vậy, bạn cũng phải uyển chuyển một chút. Điều quan trọng là bé đủ no và tăng trưởng tốt.
3. Ǎn dặm như thế nào cho đủ chất?
Thực phẩm trong thiên nhiên được phân thành 4 nhóm dinh dưỡng chính: chất bột đường (gạo, bún, mì, bánh phở), chất béo (dầu ăn, mỡ động vật, bơ), chất đạm (thịt, cá, tôm, cua, trứng, tào phớ), rau và trái cây.
Khẩu phần ăn dặm của bé phải có cả 4 nhóm thực phẩm trên thì mới đủ chất (trừ giai đoạn đầu chỉ ăn dặm với 1 loại thực phẩm). Với nửa bát bột hay cháo (khoảng 100 ml), cần cho thêm chất đạm, rau củ (đều băm nhuyễn), dầu ăn (hay mỡ nước), mỗi thứ 1 thìa canh.
Bé phải được cho ăn cả phần cái (phần xác) của thực phẩm thì mới nhận được đủ chất dinh dưỡng. Vì vậy, các thực phẩm cần được xắt nhỏ, băm nhuyễn và nấu chín. Nên nấu bữa nào ăn bữa đó; thay đổi món thường xuyên cho bé. Giữa các bữa ăn, bạn nên cho bé uống thêm 50-100 ml nước trái cây hoặc trái cây tán nhuyễn để cung cấp thêm các loại sinh tố cần thiết.
4. Có thể xảy ra những trục trặc nào ?
- Bé chống cự lại, không chịu ăn: Hãy đổi qua một loại thức ăn khác, vì có thể bé không thích bột ngọt (bột sữa) mà lại thích ăn bột mặn (bột thịt, tôm...) hay ngược lại. Thay vì dùng thìa đút, bạn có thể lấy ngón tay sạch quẹt thức ăn cho bé nuốt. Nếu không thành công, hãy tạm dừng 1-2 tuần sau rồi thử lại. Không nên ép bé.
- Bé đi tiêu hơi lỏng: Nếu bé vẫn ăn, bú tốt, chơi khỏe, bạn cứ an tâm cho bé tiếp tục ăn. Nếu bé đi tiêu nhiều nước và đi hơn 3 lần mỗi ngày, kèm theo nôn trớ, chướng bụng, bỏ bú... thì nên ngừng cho ăn ngay. Nửa tháng sau hãy tập ăn trở lại như hướng dẫn trong những ngày đầu ăn dặm.
- Bé bị nổi mề đay, lác sữa... sau khi ăn trứng: Có thể do dị ứng trứng, nên tạm ngưng ăn trứng một thời gian (thay bằng sữa bột, tào phớ ở tháng đầu và cá, thịt, tép ở những tháng kế tiếp). Nên nấu trứng chín kỹ, không cho bé ăn “lòng đào”.
- Bé bị nghẹn, khó nuốt: Kiểm tra xem bột có quá đặc, quá lợn cợn không. Hãy làm loãng bột hơn với một ít nước chín, nước canh hay sữa; hoặc tán nhỏ thức ăn hơn nữa bằng thìa (có thể tán qua rây).
- Bé không muốn ăn: Có phải do bé chưa đói, bạn hãy chờ đến bữa ăn sau. Lúc đói hãy cho ăn, sau đó cho bú thêm ngay để bé đủ no. Không nên gò ép, căng thẳng kẻo làm bé sợ ăn; vì việc tạo thói quen ăn uống quan trọng hơn việc phải ăn cho hết suất.


Sai lầm khi nấu và cho con ăn dặm


Dù ngày nào cũng rất kỳ công chế biến và đổi món liên tục, hết thịt, cá, tôm, cua, lươn, mực... nhưng cô con gái 16 tháng tuổi của chị Hoa vẫn lười ăn và chỉ được 9 kg. Chị đưa con đi khám dinh dưỡng và ngạc nhiên khi bác sĩ bảo: 'Lỗi tại mẹ. Đi học nấu và cho con ăn nhé!".
Thực ra, chị Hoa, Gia Lâm, Hà Nội luôn nghĩ chắc con có vấn đề về hệ tiêu hóa hay hấp thu không tốt. Chị muốn được bác sĩ kê đơn thuốc kích thích cho bé ăn nhiều chứ không nghĩ cách nấu của mình có vấn đề gì.
Tuy nhiên, đến học lớp nấu bột, khi được bác sĩ phân tích, chị mới biết vì con gầy nên gia đình cố cho cháu ăn thật nhiều chất đạm, rồi mỗi bữa ăn là một cuộc chiến nhồi nhét nên càng ngày con bé càng sợ ăn.
Bác sĩ Nguyễn Thị Yến, Phó trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi trung ương cho biết, trường hợp như chị Hoa rất nhiều. Hiện nay, do vừa có điều kiện kinh tế, vừa đẻ ít con nên các gia đình thường rất quan tâm đến trẻ và luôn cố gắng đảm bảo một chế độ dinh dưỡng tốt nhất để bé phát triển tối ưu về thể chất và trí tuệ.
Thế nhưng, nhiều bà mẹ đầu tư rất nhiều thời gian và công sức vào bữa ăn cho trẻ mà bé vẫn không thích ăn và không tăng đủ cân. Lý do là họ chưa biết nấu đúng cách hoặc sai khi cho con ăn. Chính vì thế, các cháu không thích ăn, hay nôn ói... dẫn đến còi, suy dinh dưỡng hoặc hay rối loạn tiêu hóa.
Theo bác sĩ Yến, tùy vào lứa tuổi và khẩu vị của từng cháu mà mẹ có thể chế biến cho phù hợp nhưng phải đảm bảo làm sao bát bột/cháo luôn đầy đủ 4 nhóm thực phẩm là chất đạm (thịt, cá, trứng, tôm...), chất béo (dầu, mỡ), chất bột đường (bột, gạo), vitamin và khoáng chất (rau xanh, củ).
Ngoài ra, các chất này cần được cân đối lượng vừa phải để vừa cung cấp đủ năng lượng, dưỡng chất, vừa giúp bé hấp thu và tiêu hóa tốt.
Qua kinh nghiệm khám và điều trị các vấn đề về dinh dưỡng cho trẻ, theo bác sĩ, những sai lầm dưới đây là các bà mẹ hiện đại hay mắc nhất:
-Cho trẻ ăn dặm quá sớm. Thời điểm thích hợp nhất để cho bé ăn dặm là từ 6 tháng tuổi. Tuy vậy, có rất nhiều bà mẹ cho con ăn bột từ khi bé mới được 3, 4 tháng và nếu thấy con thích thú lại cho bé ăn nhiều ngay. Lúc này khả năng tiêu hóa tinh bột của bé còn kém, trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa.
- Bắt con ăn quá nhiều và phải ăn hết khẩu phần: Ở mỗi tháng tuổi, nhu cầu năng lượng của bé khác nhau và mẹ nên cung cấp một lượng vừa phải. Nếu bắt trẻ ăn nhiều quá, mà bữa nào cũng cố ép ăn hết bát, bé sẽ chán và sợ ăn.
- Quá ưu tiên đạm: Nhiều mẹ nấu bột cứ cho thật nhiều thịt, cá, trứng,... và nghĩ như thế mới đủ chất nhưng lượng đạm quá nhiều không những làm bé rối loạn tiêu hóa mà còn dễ dẫn đến chứng biếng ăn ở trẻ. Bát bột phải đảm bảo cân đối 4 nhóm thực phẩm.
- Chỉ cho ăn nước, không ăn cái: Hiện nay ít bà mẹ mắc sai lầm này hơn so với những năm trước. Tuy nhiên, vẫn có chị em ninh xương, nghiền rau, xay thịt chỉ lấy nước, bỏ cái để nấu bột cho con vì nghĩ như thế cũng đủ chất rồi hay sợ trẻ bị hóc, ói. Thực ra, các chất dinh dưỡng, vitamin nằm trong phần xác thực phẩm là chính.
- Không cho hoặc cho rất ít dầu khiến bát bột không cung cấp đủ năng lượng cho trẻ. Thực ra dầu ăn dễ tiêu hóa lại rất giàu năng lượng và giúp hòa tan các chất khác khiến cơ thể dễ hấp thu.
- Nghiền nhuyễn mọi thức ăn: Khiến bé không được học nhai, chỉ biết nuốt chửng, từ đó không cảm nhận được mùi vị thức ăn, dẫn đến nhanh chán. Nhiều trẻ 3 tuổi đi mẫu giáo không ăn được cơm cùng các bạn do ở nhà bố mẹ vẫn cho ăn cháo xay.
Ngoài ra, nhiều phụ huynh có thói quen nấu một nồi cháo có đầy đủ thịt, rau từ sáng rồi để bé ăn cả ngày, đến bữa nào lại lấy ra xay rồi nấu lại. Với cách này, cháo bữa sau sẽ có mùi khó chịu, rau giảm chất lượng và chắc chắn trẻ sẽ không thích ăn.
- Các bữa ăn kéo dài quá: Nhiều người cố bắt con ăn hết bát bột, vừa ăn vừa chơi hay đi rong có khi kéo dài cả 1-2 tiếng. Điều này vừa làm bát bột vữa, khó ăn, vừa khiến bé thêm chán. Hơn nữa bữa ăn kéo dài khiến thời gian tới bữa sau quá ngắn, bé còn chưa kịp cảm thấy đói. Vòng luẩn quẩn này khiến bé ngày càng không muốn ăn. Tốt nhất, bữa ăn chỉ nên kéo dài nhiều nhất là 30 phút, dù bé mới ăn được ít cũng nên kết thúc.
Hiện nay, chiều thứ 5 hằng tuần, khoa dinh dưỡng, Viện Nhi trung ương, đều có lớp hướng dẫn các mẹ thực hành nấu bột/cháo cho trẻ, đồng thời trả lời những thắc mắc của các mẹ về vấn đề dinh dưỡng của con.
Tại lớp học, bác sĩ về dinh dưỡng, tiết chế sẽ thực hành giúp các mẹ cách nấu một bữa bột/cháo hoàn chỉnh cho con với lượng và tỉ lệ các loại thực phẩm thích hợp cho từng lứa tuổi. Theo các bác sĩ, nên cho trẻ ăn từ lỏng đến đặc dần. Riêng với thịt, rau, cần tập cho bé ăn từ dạng mịn đến thô dần để trẻ tập nhai. Các bà mẹ hạn chế sử dụng máy xay sinh tố mà nên băm.
Dưới đây là gợi ý của bác sĩ về chế độ ăn bột/cháo của trẻ trong 2 năm đầu (kết hợp với các bữa phụ +sữa mẹ hoặc sữa công thức):
- 6-7 tháng: 1 bữa bột lỏng khoảng 100 - 200 ml
- 8-9 tháng: 2 bữa bột đặc 200 ml.
- 10-12 tháng tuổi: 3 bữa bột đặc 200 ml - 250 ml
- 12 - 24 tháng: 3 bữa cháo 250 - 300 ml
- 24 tháng trở đi có thể ăn cơm cùng gia đình
Với mỗi bé, tùy thể chất, khẩu vị có thể thời gian và số bữa khác đi.