Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

Bí quyết nấu cháo cho trẻ dưới một tuổi

Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sự phát triển của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Tuy nhiên, ăn dặm là cách tốt nhất để cung cấp đủ dưỡng chất cho trẻ cứng cáp hơn. Bột hoặc cháo là thức ăn dặm mà các bác sĩ khuyên các bà mẹ. Theo tháng tuổi, lượng thành phần trong cháo có thể thay đổi, còn cách nấu thì tương tự như nhau. Khi nấu cháo cho trẻ, các bà mẹ cần lưu ý những vấn đề sau:



1.  Một số dụng cụ đơn giản dùng để đong đếm khi nấu cháo: 

- 1 bát ăn cơm = 200ml nước: dùng để đong nước.

- 1 thìa súp gạo = 5 g gạo xay vỡ.

- 1 thìa súp thịt = 10g thịt.

- 1 thìa súp rau = 5 g rau.

2. Cháo cho bé mới tập ăn dặm (từ 4 tháng đến 6 tháng)

Nguyên liệu:

- 2 bát nước = 400 ml

- 5g gạo xay vỡ

- 10 g thịt lợn thăn 

- 2 thìa súp rau ngót

- 1 thìa cà phê dầu ăn chuyên dành cho trẻ.

Lưu ý ở tuổi này: 

- Rau chỉ ăn lá, không dùng cuống cứng.

- Gạo dùng nấu cháo là gạo tám xay vỡ, thường không pha thêm bất cứ loại hạt gì, không pha gạo nếp. 

- Chưa nên ăn nước mắm vào cháo, nếu có chỉ cho vài giọt.

Cách nấu:

- Cho nước vào với gạo nấu trên bếp. Khi cháo sôi thì đun thật nhỏ lửa cho khỏi bị trào và cháo nhanh nhừ. Cho thịt nạc băm nhỏ vào ninh cùng với cháo.

- Rau ngót thái chỉ băm nhỏ rồi cho vào cối giã lọc lấy nước cốt. Khi cháo chín thì cho tiếp nước cốt rau vào. 

- Trước khi cho trẻ ăn, cho 1 thìa cà phê dầu ăn vào cháo nóng.

- Ở lứa tuổi này, ngày ăn 1-2 bát cháo, đồng thời bổ sung 600-800ml sữa mới là đủ dinh dưỡng.

alt


3. Cháo cho bé từ 7-10 tháng

- Các nguyên liệu tăng dần theo khẩu phần ăn của con bạn, ở tuổi này bạn có thể chế thêm mắm vào cháo cho bé. 

- Cháo có thể nấu đặc chứ không loãng như thời kỳ trước. 

- Lượng thịt tăng lên 1,5 thìa, gạo 3 thìa súp = 15g, rau thì có thể băm nhỏ và nấu trực tiếp với cháo chú không cần giã lấy nước cốt. 

- Nếu ăn trứng gà thì chỉ ăn lòng đỏ, trên 1 tuổi thì mới nên ăn cả lòng trắng. Một lòng đỏ trứng bằng 20g thịt. Trứng đánh tan với rau và cũng cho vào khi cháo chín nhừ. 

- Rau ngót có thể thay bằng rau cải, bí đỏ.

- Ở tuổi này ăn 2-3 bát bột 1 ngày và cộng thêm 600-700ml sữa. 

4. Cháo cho bé từ 10-12 tháng

- Các thành phần nguyên liệu tăng dần theo tháng tuổi. Thịt lợn 2 thìa = 20g. 4 thìa súp gạo = 20g. Bạn có thể thay thịt lợn bằng tôm, cua, thịt bò, lươn. 

- Nên cho trẻ ăn thêm mỡ, tốt nhất là mỡ gà với tỉ lệ tương tự như dầu ăn.

- Nếu lứa tuổi này ăn cua đồng thì bạn lấy 5 con cua, giã ra được 60 g cua, lọc ra 1 bát nước đầy được 30g cua là đủ cho khẩu phần cháo của bé. Trong các thực phẩm này đã đủ canxi nên các bà mẹ không cần ninh xương lấy nước, vì muốn có canxi phải ninh xương nát nhừ rất mất thời gian.

- Ở độ tuổi này, trẻ nên ăn một ngày 3 bát cháo và uống 700-800ml sữa.

Những điều cần biết khi cho bé ăn dặm

Vào thời điểm bắt đầu ăn dặm phụ thuộc tốc độ tăng cân của trẻ. Nếu bé 4 tháng tuổi tăng 200 g mỗi tuần thì có thể lùi thời điểm ăn dặm đến tháng thứ 5 hoặc thứ 6. Nếu không đạt mức tăng trưởng này, bé cần được tập ăn dặm ngay vì sữa mẹ không còn đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng.
Trong trường hợp trẻ đòi thức ăn khi nhìn mọi người ăn uống, có thể thử cho bé uống chút nước canh, nước cháo hoặc trái cây. Đây cũng là thời gian tập cho bé ăn dễ dàng nhất.



Các nhà nhi khoa cho biết, thời điểm tốt nhất để tập cho trẻ ăn dặm là khi bé được 4-6 tháng tuổi. Không nên để đến khi trẻ được 7-8 tháng tuổi vì lúc này, bé đã quá quen với việc bú sữa, khó chấp nhận các thực phẩm có mùi vị và độ đậm đặc khác sữa, cũng không quen với cách ăn bằng thìa. Khi này, việc tập cho bé ăn dặm sẽ rất khó khăn. Sau đây là lời giải đáp cho một số câu hỏi về vấn đề ăn dặm:

1. Tập cho bé ăn dặm như thế nào?
Thực phẩm để tập ăn cần đơn giản, dễ làm. Bạn đừng chú ý đến thành phần dinh dưỡng vội vì điều quan trọng lúc này là tập cách ăn, giúp bé quen với độ đặc, vị thức ăn mới và ăn bằng thìa thay vì bú mút. Các thức ăn đầu tiên có thể là:
- Chuối hoặc đu đủ, xoài chín mềm nạo bằng thìa.
- Một miếng khoai lang hoặc khoai tây nhỏ nấu chín mềm, tán nhuyễn, trộn với vài thìa sữa mẹ hoặc loại sữa bò bé đang bú.
- Một thìa bột ăn liền của trẻ em pha loãng với nước ấm hoặc sữa, 1 thìa nước cơm hòa với sữa.
- Tán nhuyễn vài thìa bí đỏ, bí xanh từ nồi canh gia đình.
Đầu tiên, cần chọn một trong các thứ trên cho bé nếm thử từng chút một. Nếu bé chịu ăn, có thể tăng dần lên 1-3 thìa nhỏ. Nên tập lúc bé đói; sau đó vẫn cho bú bình thường đến khi đủ no.
Khi bé đã quen với thức ăn đầu tiên, hãy cho bé nếm loại mới với cách như trên. Dần dần, bé sẽ quen với nhiều mùi vị, độ đặc khác nhau của thức ăn. Nên tập từ ít đến nhiều, từ loãng đến sền sệt rồi đặc hơn để bé dần dần thích nghi. Mỗi loại thức ăn mới cần tập trong 3-5 ngày mới chuyển sang thức khác. Thời gian này đủ để bé làm quen với thực phẩm, giúp mẹ phát hiện ra loại thức ăn gây dị ứng cho trẻ để loại trừ.
2. Ǎn dặm bao nhiêu là đủ?
- Trẻ 4-6 tháng: Lúc đầu chỉ cần ăn 1 bữa, mỗi bữa vài thìa (tăng dần) và cho bú thêm ngay sau khi ăn. Đến khoảng 5 tháng rưỡi, 6 tháng, có thể tăng thêm 2 bữa mỗi ngày, mỗi bữa khoảng nửa bát. Các cữ sữa vẫn phải duy trì đủ theo yêu cầu của bé.
- Từ 6 đến 9 tháng: Ăn bột 2 bữa/ngày, mỗi bữa khoảng 1/2-2/3 bát với đủ 4 nhóm thực phẩm. Vẫn cho bú sữa nhiều lần, bú đêm cho đủ nhu cầu tăng trưởng.
- Từ 9 đến 12 tháng: Ăn bột, cháo đặc 2-3 bữa mỗi ngày với khoảng 2/3 bát mỗi bữa. Ǎn thêm trái cây tươi và các loại thức ăn mềm như pho mát, bánh flan, rau câu, tào phớ đường. Sữa vẫn không thể thiếu trong khẩu phần hằng ngày của bé.
Nói chung, lượng ăn của mỗi bé khác nhau tùy theo khả năng tiêu hóa, hấp thu. Có trẻ ăn nhiều hơn bú, cũng có trẻ bú nhiều hơn ăn. Vì vậy, bạn cũng phải uyển chuyển một chút. Điều quan trọng là bé đủ no và tăng trưởng tốt.
3. Ǎn dặm như thế nào cho đủ chất?
Thực phẩm trong thiên nhiên được phân thành 4 nhóm dinh dưỡng chính: chất bột đường (gạo, bún, mì, bánh phở), chất béo (dầu ăn, mỡ động vật, bơ), chất đạm (thịt, cá, tôm, cua, trứng, tào phớ), rau và trái cây.
Khẩu phần ăn dặm của bé phải có cả 4 nhóm thực phẩm trên thì mới đủ chất (trừ giai đoạn đầu chỉ ăn dặm với 1 loại thực phẩm). Với nửa bát bột hay cháo (khoảng 100 ml), cần cho thêm chất đạm, rau củ (đều băm nhuyễn), dầu ăn (hay mỡ nước), mỗi thứ 1 thìa canh.
Bé phải được cho ăn cả phần cái (phần xác) của thực phẩm thì mới nhận được đủ chất dinh dưỡng. Vì vậy, các thực phẩm cần được xắt nhỏ, băm nhuyễn và nấu chín. Nên nấu bữa nào ăn bữa đó; thay đổi món thường xuyên cho bé. Giữa các bữa ăn, bạn nên cho bé uống thêm 50-100 ml nước trái cây hoặc trái cây tán nhuyễn để cung cấp thêm các loại sinh tố cần thiết.
4. Có thể xảy ra những trục trặc nào ?
- Bé chống cự lại, không chịu ăn: Hãy đổi qua một loại thức ăn khác, vì có thể bé không thích bột ngọt (bột sữa) mà lại thích ăn bột mặn (bột thịt, tôm...) hay ngược lại. Thay vì dùng thìa đút, bạn có thể lấy ngón tay sạch quẹt thức ăn cho bé nuốt. Nếu không thành công, hãy tạm dừng 1-2 tuần sau rồi thử lại. Không nên ép bé.
- Bé đi tiêu hơi lỏng: Nếu bé vẫn ăn, bú tốt, chơi khỏe, bạn cứ an tâm cho bé tiếp tục ăn. Nếu bé đi tiêu nhiều nước và đi hơn 3 lần mỗi ngày, kèm theo nôn trớ, chướng bụng, bỏ bú... thì nên ngừng cho ăn ngay. Nửa tháng sau hãy tập ăn trở lại như hướng dẫn trong những ngày đầu ăn dặm.
- Bé bị nổi mề đay, lác sữa... sau khi ăn trứng: Có thể do dị ứng trứng, nên tạm ngưng ăn trứng một thời gian (thay bằng sữa bột, tào phớ ở tháng đầu và cá, thịt, tép ở những tháng kế tiếp). Nên nấu trứng chín kỹ, không cho bé ăn “lòng đào”.
- Bé bị nghẹn, khó nuốt: Kiểm tra xem bột có quá đặc, quá lợn cợn không. Hãy làm loãng bột hơn với một ít nước chín, nước canh hay sữa; hoặc tán nhỏ thức ăn hơn nữa bằng thìa (có thể tán qua rây).
- Bé không muốn ăn: Có phải do bé chưa đói, bạn hãy chờ đến bữa ăn sau. Lúc đói hãy cho ăn, sau đó cho bú thêm ngay để bé đủ no. Không nên gò ép, căng thẳng kẻo làm bé sợ ăn; vì việc tạo thói quen ăn uống quan trọng hơn việc phải ăn cho hết suất.


Sai lầm khi nấu và cho con ăn dặm


Dù ngày nào cũng rất kỳ công chế biến và đổi món liên tục, hết thịt, cá, tôm, cua, lươn, mực... nhưng cô con gái 16 tháng tuổi của chị Hoa vẫn lười ăn và chỉ được 9 kg. Chị đưa con đi khám dinh dưỡng và ngạc nhiên khi bác sĩ bảo: 'Lỗi tại mẹ. Đi học nấu và cho con ăn nhé!".
Thực ra, chị Hoa, Gia Lâm, Hà Nội luôn nghĩ chắc con có vấn đề về hệ tiêu hóa hay hấp thu không tốt. Chị muốn được bác sĩ kê đơn thuốc kích thích cho bé ăn nhiều chứ không nghĩ cách nấu của mình có vấn đề gì.
Tuy nhiên, đến học lớp nấu bột, khi được bác sĩ phân tích, chị mới biết vì con gầy nên gia đình cố cho cháu ăn thật nhiều chất đạm, rồi mỗi bữa ăn là một cuộc chiến nhồi nhét nên càng ngày con bé càng sợ ăn.
Bác sĩ Nguyễn Thị Yến, Phó trưởng khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện Nhi trung ương cho biết, trường hợp như chị Hoa rất nhiều. Hiện nay, do vừa có điều kiện kinh tế, vừa đẻ ít con nên các gia đình thường rất quan tâm đến trẻ và luôn cố gắng đảm bảo một chế độ dinh dưỡng tốt nhất để bé phát triển tối ưu về thể chất và trí tuệ.
Thế nhưng, nhiều bà mẹ đầu tư rất nhiều thời gian và công sức vào bữa ăn cho trẻ mà bé vẫn không thích ăn và không tăng đủ cân. Lý do là họ chưa biết nấu đúng cách hoặc sai khi cho con ăn. Chính vì thế, các cháu không thích ăn, hay nôn ói... dẫn đến còi, suy dinh dưỡng hoặc hay rối loạn tiêu hóa.
Theo bác sĩ Yến, tùy vào lứa tuổi và khẩu vị của từng cháu mà mẹ có thể chế biến cho phù hợp nhưng phải đảm bảo làm sao bát bột/cháo luôn đầy đủ 4 nhóm thực phẩm là chất đạm (thịt, cá, trứng, tôm...), chất béo (dầu, mỡ), chất bột đường (bột, gạo), vitamin và khoáng chất (rau xanh, củ).
Ngoài ra, các chất này cần được cân đối lượng vừa phải để vừa cung cấp đủ năng lượng, dưỡng chất, vừa giúp bé hấp thu và tiêu hóa tốt.
Qua kinh nghiệm khám và điều trị các vấn đề về dinh dưỡng cho trẻ, theo bác sĩ, những sai lầm dưới đây là các bà mẹ hiện đại hay mắc nhất:
-Cho trẻ ăn dặm quá sớm. Thời điểm thích hợp nhất để cho bé ăn dặm là từ 6 tháng tuổi. Tuy vậy, có rất nhiều bà mẹ cho con ăn bột từ khi bé mới được 3, 4 tháng và nếu thấy con thích thú lại cho bé ăn nhiều ngay. Lúc này khả năng tiêu hóa tinh bột của bé còn kém, trẻ dễ bị rối loạn tiêu hóa.
- Bắt con ăn quá nhiều và phải ăn hết khẩu phần: Ở mỗi tháng tuổi, nhu cầu năng lượng của bé khác nhau và mẹ nên cung cấp một lượng vừa phải. Nếu bắt trẻ ăn nhiều quá, mà bữa nào cũng cố ép ăn hết bát, bé sẽ chán và sợ ăn.
- Quá ưu tiên đạm: Nhiều mẹ nấu bột cứ cho thật nhiều thịt, cá, trứng,... và nghĩ như thế mới đủ chất nhưng lượng đạm quá nhiều không những làm bé rối loạn tiêu hóa mà còn dễ dẫn đến chứng biếng ăn ở trẻ. Bát bột phải đảm bảo cân đối 4 nhóm thực phẩm.
- Chỉ cho ăn nước, không ăn cái: Hiện nay ít bà mẹ mắc sai lầm này hơn so với những năm trước. Tuy nhiên, vẫn có chị em ninh xương, nghiền rau, xay thịt chỉ lấy nước, bỏ cái để nấu bột cho con vì nghĩ như thế cũng đủ chất rồi hay sợ trẻ bị hóc, ói. Thực ra, các chất dinh dưỡng, vitamin nằm trong phần xác thực phẩm là chính.
- Không cho hoặc cho rất ít dầu khiến bát bột không cung cấp đủ năng lượng cho trẻ. Thực ra dầu ăn dễ tiêu hóa lại rất giàu năng lượng và giúp hòa tan các chất khác khiến cơ thể dễ hấp thu.
- Nghiền nhuyễn mọi thức ăn: Khiến bé không được học nhai, chỉ biết nuốt chửng, từ đó không cảm nhận được mùi vị thức ăn, dẫn đến nhanh chán. Nhiều trẻ 3 tuổi đi mẫu giáo không ăn được cơm cùng các bạn do ở nhà bố mẹ vẫn cho ăn cháo xay.
Ngoài ra, nhiều phụ huynh có thói quen nấu một nồi cháo có đầy đủ thịt, rau từ sáng rồi để bé ăn cả ngày, đến bữa nào lại lấy ra xay rồi nấu lại. Với cách này, cháo bữa sau sẽ có mùi khó chịu, rau giảm chất lượng và chắc chắn trẻ sẽ không thích ăn.
- Các bữa ăn kéo dài quá: Nhiều người cố bắt con ăn hết bát bột, vừa ăn vừa chơi hay đi rong có khi kéo dài cả 1-2 tiếng. Điều này vừa làm bát bột vữa, khó ăn, vừa khiến bé thêm chán. Hơn nữa bữa ăn kéo dài khiến thời gian tới bữa sau quá ngắn, bé còn chưa kịp cảm thấy đói. Vòng luẩn quẩn này khiến bé ngày càng không muốn ăn. Tốt nhất, bữa ăn chỉ nên kéo dài nhiều nhất là 30 phút, dù bé mới ăn được ít cũng nên kết thúc.
Hiện nay, chiều thứ 5 hằng tuần, khoa dinh dưỡng, Viện Nhi trung ương, đều có lớp hướng dẫn các mẹ thực hành nấu bột/cháo cho trẻ, đồng thời trả lời những thắc mắc của các mẹ về vấn đề dinh dưỡng của con.
Tại lớp học, bác sĩ về dinh dưỡng, tiết chế sẽ thực hành giúp các mẹ cách nấu một bữa bột/cháo hoàn chỉnh cho con với lượng và tỉ lệ các loại thực phẩm thích hợp cho từng lứa tuổi. Theo các bác sĩ, nên cho trẻ ăn từ lỏng đến đặc dần. Riêng với thịt, rau, cần tập cho bé ăn từ dạng mịn đến thô dần để trẻ tập nhai. Các bà mẹ hạn chế sử dụng máy xay sinh tố mà nên băm.
Dưới đây là gợi ý của bác sĩ về chế độ ăn bột/cháo của trẻ trong 2 năm đầu (kết hợp với các bữa phụ +sữa mẹ hoặc sữa công thức):
- 6-7 tháng: 1 bữa bột lỏng khoảng 100 - 200 ml
- 8-9 tháng: 2 bữa bột đặc 200 ml.
- 10-12 tháng tuổi: 3 bữa bột đặc 200 ml - 250 ml
- 12 - 24 tháng: 3 bữa cháo 250 - 300 ml
- 24 tháng trở đi có thể ăn cơm cùng gia đình
Với mỗi bé, tùy thể chất, khẩu vị có thể thời gian và số bữa khác đi.

Chế độ dinh dưỡng của trẻ từ 6 tháng tuổi trở đi

Những thực đơn sẵn có sau đây sẽ giúp các mẹ gỡ rối khi gặp khó khăn trong việc thiết lập chế độ dinh dưỡng cho con khi con trong giai đoạn chập chững tập ăn.
Khi trẻ được gần 1 tuổi, những thực phẩm chất rắn bắt đầu trở nên quan trọng vì nó cung cấp chất dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể và giúp thiết lập sở thích ăn uống sau này của trẻ. Có nhiều mẹ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thiết lập các thực đơn cho trẻ mỗi bữa khi con bắt đầu chập chững giai đoạn tập ăn. Để giải quyết vướng mắc này, các mẹ hãy thử áp dụng những thực đơn sau đây cho các bữa ăn của con mình để trẻ thêm phần cứng cáp và khỏe mạnh.



Đối với trẻ từ 6 đến 8 tháng
Đây là giai đoạn trẻ trong độ tuổi bắt đầu làm quen với thực phẩn chất rắn. Các mẹ cần thiết phải cung cấp cho trẻ các loại ngũ cốc, trái cây và việc cho trẻ uống sữa (hoặc bú). Lúc này vẫn phải được tiến hành song song đồng thời với việc cho bé làm quen với những thức ăn chất rắn do vậy mẹ chú ý không được thay thế hoàn toàn lượng sữa cho con bằng lượng thức ăn chất rắn mới.
Các bữa ăn, các mẹ cân đối theo thực đơn như sau:
- Bữa sáng: Các mẹ hãy cho con ăn 2 muỗng ngũ cốc dành cho trẻ sơ sinh. Loại ngũ cốc này không nhất nhất phải là gạo mà các mẹ có thể cho con sử dụng các lọai ngũ cốc khác như: yến mạch, lúa mạch…
- Bữa trưa: Mẹ hãy cho con ăn từ 1 đến 2 muỗng canh bột ngũ cốc cho trẻ sơ sinh, 2 thìa trái cây nghiền nhuyễn hoặc rau, củ, quả như: táo, xoài chín, khoai lang, hoặc đậu Hà Lan... xay nhuyễn.
- Bữa tối: Các mẹ vẫn cho con ăn từ 1 đến 2 muỗng canh bột ngũ cốc cho trẻ sơ sinh, và từ 1 đến 2 muỗng canh trái cây hoặc rau quả như cà rốt nghiền, bí, chuối, hoặc mơ xay nhuyễn. 

Nguyên tắc vàng cân bằng dinh dưỡng cho trẻ

Để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng khiến bé thích thú, phàm ăn hơn, các mẹ hãy tìm hiểu tỷ lệ chất đạm, hoa quả và sữa... đưa vào thực đơn hàng ngày của bé sao cho hợp lý nhất nhé!
Rau củ, hoa quả là thực phẩm tốt nhất dành cho trẻ nhỏ
Từ 4 đến 6 tháng tuổi, mẹ cần đa dạng các món ăn trong khẩu phần ăn để bé không bị thiếu chất và được thay đổi khẩu vị. Mẹ có thể xay nhuyễn các loại khoai tây, cà rốt cho bé ăn từng thìa nhỏ một, lần đầu làm quen với món ăn khác bé có thể ngạc nhiên. Nếu cảm thấy bé khá ưng ý, hãy tăng dần khẩu phần cho bé lên từ 1 thìa, 2 thìa, 3 thìa... mỗi ngày.
Song song với đó, mẹ hãy xem bé thích loại rau, loại quả nào bằng cách mỗi tuần lại thay đổi thực đơn rau và hoa quả mới có lượng dinh dưỡng phù hợp với bé như lê, chuối, cà rốt... Các mẹ để ý là chỉ cho bé ăn từng loại rau, quả một, đừng trộn lẫn nhiều vị với nhau sẽ khiến bé khó phân biệt. Nếu bé nhà bạn không thích một loại rau, quả nào đó, đừng ép bé ăn liên tục cho quen mà hãy chờ 1 tuần sau rồi thử lại với một chút thay đổi trong chế biến xem sao nhé!
Ngoài ra, mẹ hãy cho bé ăn các loại rau, quả đúng mùa sẽ vừa bổ, vừa ngon lại giảm khả năng bị phun thuốc trừ sâu nữa. Ở thời kỳ đầu, rau quả cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự cân bằng dinh dưỡng cho bé tương đương với sữa. Duy trì thực đơn đầy đủ rau quả sẽ đảm bảo cho bé sự phát triển tốt nhất.
Không nên cho bé ăn nhiều đạm
Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng, khi còn nhỏ, bé không nên ăn quá nhiều thịt, cá để nạp một lượng lớn chất đạm vào cơ thể. Từ 6 đến 8 tháng tuổi, mẹ có thể cho bé ăn 2 thìa cafe thịt, cá vào bữa trưa hoặc nửa lòng đỏ trứng gà bắt đầu từ tháng thứ 9 (nguyên tắc là 10gr protein mỗi ngày trong 6 tháng đầu và tăng lên 20gr kể từ tháng thứ 9).
Từ tháng thứ 12 trở đi, bạn có thể cho bé ăn 3 thìa cafe thịt, cá hoặc 1 lòng đỏ trứng.
Tuy nhiên, bạn đừng bỏ qua mỡ và các loại dầu trong thực đơn của bé nhé! Hãy trộn 1 ít bơ khi bạn nghiền rau cho bé ăn. Bơ sẽ bổ sung vitamin A và tăng thêm hương vị cho khẩu phần ăn của bé. Hoặc bạn cũng có thể thay thế bằng các loại dầu tốt cho sức khỏe như dầu oliu, dầu cải, lượng axit béo trong các loại dầu rất tốt cho phát triển trí não ở trẻ.
Hạn chế đường ở mức tối đa
Khi bé chưa tròn 1 tuổi, các mẹ nên tránh cho bé ăn các loại bánh quy, bánh ngọt, kể cả loại dành riêng cho trẻ sơ sinh. Các loại bánh này không những ít dinh dưỡng mà còn cung cấp đường và trong bánh thường không thể thiếu lòng trắng trứng, thành phần có thể gây dị ứng ở trẻ.
Các mẹ có thể nghĩ rằng nếu cho bé ăn ít thì không sao, điều này không sai vì với số lượng ít, các loại bánh ngọt không gây ảnh hưởng gì đến chế độ dinh dưỡng của trẻ, tuy nhiên nó lại kéo theo mặt trái khác, đó là bé sẽ quen với mùi thơm của các loại bánh, từ đó chỉ thích ăn các món có mùi thơm tương tự.  


Chế độ ăn hợp lý cho bé 5-6 tháng tuổi 

Nếu bạn cho bé ăn bột bằng loại thìa phù hợp, bé biết cách lấy lưỡi đưa thức ăn vào trong khoang miệng và nuốt thức ăn qua cổ họng.
Giai đoạn này, xương khớp cổ của bé đã cứng cáp hơn. Bé có thể ngồi vững trong lòng cha mẹ mỗi lần bạn cho bé ăn. Nếu bạn cho bé ăn bột bằng loại thìa phù hợp, bé biết cách lấy lưỡi đưa thức ăn vào trong khoang miệng và nuốt thức ăn qua cổ họng.
Chế độ sữa dành cho bé
Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bạn nên nuôi bé hoàn toàn bằng sữa mẹ trong vòng 6 tháng đầu đời. Nếu muốn bổ sung thêm sữa ngoài, bạn nên chọn sữa công thức. Bởi vì, đây là loại sữa có các thành phần dinh dưỡng tương đương với sữa mẹ nên bé dễ hấp thu và ít xảy ra quá trình dị ứng sữa.
- Bạn không nên dùng sữa đặc có đường, sữa bò tươi, sữa bột nguyên kem hoặc những loại sữa công thức khác không phù hợp với độ tuổi của bé,
 - Bạn nên lưu ý cách pha sữa cho bé: Trên bao bì mỗi nhãn sữa riêng biệt đều có in kèm thông tin chỉ dẫn cụ thể số thìa, tỷ lệ nước để bạn pha sữa một cách hợp lý cho bé. Bạn nên tránh pha sữa quá đặc bởi một số tác dụng phụ không mong muốn như sau:
+ Sữa quá đặc có thể khiến bé hấp thụ nhiều dưỡng chất hơn mức cần thiết, bé tăng khả năng bị thừa cân.
+ Nó cũng “ép” thận của bé làm việc quá mức hoặc khiến bé dễ mắc phải chứng táo bón.
Bạn không nên pha sữa của bé chung cùng các thực phẩm khác
Tuy nhiên, bạn cũng không nên pha sữa quá loãng vì sữa loãng sẽ khiến bé nhẹ cân do không được cung cấp đủ dinh dưỡng. Khi pha sữa, bạn nên dùng thìa nhựa đính kèm hộp sữa, không nên vun đầy thìa sữa mỗi lần đong sữa cho bé. Ngoài ra, bạn cũng không nên đun sôi sữa của bé; bởi vì, nhiệt độ cao sẽ khiến lượng dinh dưỡng trong sữa bị hao hụt.
Bạn không nên pha sữa của bé chung cùng các thực phẩm khác. Khi trộn thực phẩm khác, nguồn dinh dưỡng tối ưu có trong sữa sẽ mất cân bằng. Bên cạnh đó, điều này cũng khiến sữa của bé dễ bị đặc hơn. Bạn không nên pha sữa với nước hoa quả vì các loại vitamin có trong hoa quả sẽ khiến bé khó hấp thụ hơn.
- Bạn vẫn nên cho bé bú mẹ theo nhu cầu: khoảng 2-3 giờ một cữ bú (tương đương 500-800ml sữa/ngày,chưa kể sữa ngoài).
Lưu ý khi cho bé ăn dặm
- Mỗi ngày, bạn nên đảm bảo các bữa bột của bé (khoảng 2-3 bữa) đủ các nhóm dinh dưỡng chính là tinh bột, rau xanh, đạm, chất béo, vitamin… Bạn nhớ nêm thêm dầu ăn vào bát bột cho bé để đảm bảo chất béo cần thiết, giúp bé tăng cân. Bạn có thể chọn loại dầu oliu, dầu vừng (dành cho bé) để thay đổi khẩu vị, kích thích bé ngon miệng.
Bạn có thể ép lấy nước và cho bé uống
- Bạn không nên nêm đường vào bát bột của bé. Việc thừa đường có thể làm tăng men chua trong dạ dày, khiến bé dễ mắc chứng rối loạn tiêu hóa. Khi ấy, bột có thể cản trở sự hấp thu canxi, dẫn tới hiện tượng còi xương. Điều này giải thích vì sao nhiều bé trông bụ bẫm nhưng vẫn bị bác sĩ chẩn đoán là mắc chứng còi xương.
- Bạn không nên cho bé ăn quá thừa dưỡng chất: Giai đoạn này, bé cần đủ dinh dưỡng để phát triển nhưng hệ tiêu hóa chưa hoàn thiện nên bé dễ bị rối loạn. Nhiều người mẹ mắc sai lầm với suy nghĩ cho bé ăn nhiều thịt, cá để bé tăng trưởng tốt. Điều này hoàn toàn phản tác dụng; bởi vì, việc dư thừa chất đạm có thể khiến bé bị rối loạn tiêu hóa, cản trở sự hấp thu các chất dinh dưỡng khác. Kết quả, bé có thể bị thừa cân hoặc nhẹ cân. Tỷ lệ chất đạm của bé là khoảng 4g/1kg thể trọng.
Một số món hoa quả cho bé 5-6 tháng tuổi
- Đu đủ hoặc bơ, bạn nên nạo nhuyễn bằng thìa, loại bỏ hết hạt (với đu đủ) và cho bé thưởng thức. Bạn cũng có thể thêm sữa chua vào món hoa quả tươi này.
- Dưa hấu: Bạn bỏ hạt, xay nhuyễn mịn và cho bé thưởng thức.
- Táo: Bạn có thể ép lấy nước và cho bé uống.

Nên chọn chữ hay kỹ năng sống trước khi vào lớp 1

Theo thạc sĩ Lê Thị Lan Anh, nhà nghiên cứu giáo dục và phát triển trí tuệ trẻ em cho rằng với trẻ trước khi vào lớp 1 thì việc được trang bị các nhóm kỹ năng sống quan trọng hơn cả việc cho con đi học viết chữ bên ngoài.



Cha mẹ sốt sắng tìm khóa học tiền lớp 1 cho con


Thực trạng băn khoăn của phụ huynh khi con sắp vào lớp 1

- Cô ơi, con em sắp vào lớp 1 rồi, em lo lắm, chỉ sợ cháu không theo được. Nên làm thế nào hả cô? Cô ơi, nếu học trước khi vào lớp 1 thì nên học gì: Học chữ hay học kỹ năng?

- Tôi dự định cho con vào trường chọn này, trường điểm kia. Mấy trường đó mà không học trước thì chớ mơ có "vé" vào. Vậy, tôi nên bắt đầu từ đâu?

- Ôi, có gì mà phải học, cho tụi nhỏ chơi thoải mái, ngày xưa mình có học gì đâu mà vẫn… như này đó thôi.

Đó là ba trong số nhiều luồng tư tưởng của phụ huynh về việc nên hay không nên cho con học trước vào lớp 1. Nhóm quan điểm thứ nhất lo lắng khả năng hội nhập của con trong môi trường mới; nhóm quan điểm thứ hai học đơn giản chỉ để thi vào trường điểm và nhóm quan điểm thứ ba chẳng cần học gì. Nhưng, tựu chung tại, đa số phụ huynh băn khoăn về độ vênh giữa chương trình, kiến thức của mầm non với tiểu học; độ vênh về môi trường, phương pháp học giữa 2 cấp.



Do băn khoăn về độ vênh giữa chương trình, kiến thức, môi trường, phương pháp học giữa mầm non và tiểu học, nhiều phụ huynh sốt sắng tìm lớp học thêm cho con. Ảnh: Nguyễn Loan.


Học trước là gì?

Học trước ở đây bao gồm nhiều cách hiểu, từ suy nghĩ sẽ dẫn tới hành động. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi phân tích quan điểm học trước dựa trên yếu tố:

Thứ nhất, học trước không cứng nhắc, bó hẹp trong quan niệm chỉ học chữ, học số, tập đọc, ghép vần một cách khô cứng.

Thứ hai, học trước bao gồm sự chuẩn bị tâm lý, kỹ năng học tập, sinh hoạt, phương pháp học phù hợp với cấp tiểu học, đây mới là yếu tố quan trọng nhất quyết định việc có hay không nên học trước.

Học như thế nào?

1. Phương pháp học chữ, học toán dễ áp dụng:

Đây là hai môn được học với thời lượng nhiều nhất khi trẻ bước vào lớp 1. Học chữ nhiều là đương nhiên, vì trước khi tự tìm hiểu bất kỳ môn học nào, trẻ cần làm chủ cách đọc như một công cụ để mở ra kho tàng tri thức đó. Thế nhưng không cần nhất thiết đợi khi sắp vào lớp 1, chúng ta mới nháo nhào lo tìm lớp, tìm thầy cho con mà ngay từ khi 3 đến 4 tuổi, bố mẹ đã có thể cho con làm quen với các con chữ, thông qua các cách đơn giản sau:

- Làm quen với con chữ trong bảng chữ cái: Mua cho con 3-4 bộ bảng chữ cái các loại:

+ Một bộ bằng giấy có đầy đủ chữ hoa, chữ thường dán trên góc riêng của con. Hàng ngày bố mẹ có thể hướng dẫn bé từng con chữ, bé nhìn nhiều thành quen mặt chữ một cách tự nhiên, không gò ép.

+ Một bộ bảng chữ cái có hình ảnh minh họa: Với bộ bảng chữ cái này, bố mẹ chỉ dạy cho bé chữ kèm với hình minh họa, ví dụ chữ A có minh họa cái ca – từng bước hình thành khái niệm giữa từ, âm và tiếng.

+ Một bộ chữ rời bằng nhựa hoặc bằng gỗ có bán rất nhiều: bộ chữ này để bé chơi trò chơi và học chữ. Ví dụ, bố mẹ bày bộ bảng chữ cái ra, mỗi ngày hướng dẫn bé 3 -5 chữ rồi “bán hàng” các chữ đã học. "Bin ơi, bán cho mẹ chữ a. Mẹ bán cho Bin chữ b này, chữ b 2 đồng nhé. Bin ơi chữ c đâu, mẹ muốn mua chữ c"...

Trong quá trình hướng dẫn trẻ làm quen với con chữ, bố mẹ cần giữ tâm lý thoải mái nhất, vui vẻ nhất để trẻ chơi. Nên nhớ, khi thích thú là lúc trẻ tiếp thu tốt nhất. Kiên nhẫn như vậy hàng ngày, mỗi ngày 15-20 phút, bé của bạn dễ dàng thuộc lòng bảng chữ cái một cách đơn giản. Với cách này, chúng tôi từng áp dụng với trẻ mầm non, những bé chưa đến 2 tuổi đã có thể nhớ hết mặt chữ cái, chữ số, chỉ ngẫu nhiên chữ nào, số nào bé cũng có thể học được.

+ Một bộ thẻ chữ bằng giấy in màu trên bìa cứng. Bộ chữ này giúp trẻ chơi trò ghép chữ thành tiếng có nghĩa. Ví dụ chữ b ghép với chữ a thành chữ ba. Lần lượt ta giúp trẻ chơi với các con chữ từ đơn giản đến phức tạp, từ chữ đơn đến chữ ghép. Lưu ý: Khi chơi những trò này bố mẹ cần kiên nhẫn đồng hành cùng con, phương pháp chơi ghép chữ, học chữ cũng không khác nhiều khi bé chơi ghép hình - chơi trong sự hứng thú, tâm lý thoải mái là bé thích nhất.

- Tăng vốn từ vựng:

Trong giao tiếp thông thường, mỗi người chúng ta bình quân sử dụng khoảng 5.000 từ. Với trẻ nhỏ, vốn từ vựng cũng tăng dần lên phụ thuộc vào việc người lớn trang bị cho bé được bao nhiêu. Một cách không quá khó để con có thể tăng vốn từ vựng tự nhiên nhất, đó là hàng ngày bố mẹ đọc truyện cho con nghe vào buổi tối, khi rảnh rỗi hoặc trước khi đi ngủ. Cách đọc sao cho hấp dẫn, ngắt nghỉ câu đúng đoạn, ngôn từ hòa mình vào cảm xúc của nhân vật. Câu văn vui thì đọc vui, câu văn buồn đọc trầm giọng (nôm na là đọc diễn cảm).

Con trẻ có thể chưa hiểu hết ngữ cảnh, lời thoại, nhưng vốn ngôn ngữ, cảm xúc đó được trẻ tiếp thu rất tự nhiên. Trong quá trình đọc, chúng ta giải thích thêm cho trẻ hiểu những tình huống khó, đặt câu hỏi gợi ý để hiểu trẻ đang nghĩ gì về từng nhân vật, đồng thời cho trẻ được nói, được thể hiện chính kiến. Sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, ứng biến bằng ngôn ngữ tốt cũng là một trong các yếu tố đánh giá trẻ đó có thông minh hay không.

- Làm quen với việc cầm bút, tô nét, tô chữ căn bản:

Khi bé được 5 tuổi (mẫu giáo lớn), ở trường mầm non cũng đã cho bé làm quen với các nét căn bản, tô chữ đơn giản, cách cầm bút, tư thế ngồi… Khi đã được hướng dẫn ở lớp, về nhà bố mẹ hỗ trợ thêm, bé sẽ tự tin hơn nhiều, khả năng làm chủ ngòi bút, tư thế viết cũng dần tốt hơn. Bố mẹ cũng có thể mua các cuốn vở tập tô đơn giản dành cho trẻ mẫu giáo lớn cho bé (bán rất nhiều trên thị trường, nếu không biết có thể hỏi giáo viên ở trường), mỗi tối hướng dẫn bé cùng chơi, cũng tô chữ mỗi ngày từ 10-15 phút, sau đó tăng dần lên.

Trong quá trình bé tô nét, tô chữ, tô số, bố mẹ một lần nữa nhắc lại cho bé nhớ tên các chữ, số, nét đã học. Các kiến thức khác: tập đọc, ghép vần, đọc trơn… theo luật là nhiệm vụ của trường tiểu học. Ngay cả với các trường điểm, trường tuyển phải thi đầu vào thì cũng không có quy định bắt buộc nào là trẻ phải biết đọc cả. Một số nội dung khó hơn là kiểm tra tiếng Anh, các dạng bài IQ, bài tập quy luật. Những kiến thức này thường chỉ trường tư thục chất lượng cao, trường quốc tế mới dạy nhiều. Với những trường chưa hề dạy tiếng Anh, bài IQ… thì nếu bé muốn thi vào các trường tiểu học điểm, cũng nên cho bé làm quen trước.

Tương tự với cách học chữ, phụ huynh có thể áp dụng để hướng dẫn con làm quen với toán từ đơn giản đến phức tạp.

2. Học chữ, học số theo phương pháp giáo dục sớm:

Hiện nay, một số phụ huynh vẫn quan niệm học ở trường mầm non là đủ, vì thế khi sắp vào lớp 1, thấy con thiếu hành trang mới lo lắng, sốt sắng tìm thầy, tìm trường để học thêm. Kinh nghiệm cho thấy, nếu bố mẹ đồng hành cùng con, giúp con học thông qua chơi từ nhỏ, chúng ta sẽ không phải quá bận tâm đến các lớp học thêm cấp tốc, ngắn hạn. Tất cả lớp ngắn hạn, cấp tốc chỉ là giải pháp tình thế, đôi khi phản tác dụng với con trẻ, nếu phương pháp áp dụng trong đó không phù hợp, học nhồi nhét, học “lấy được”.

Bên cạnh việc dạy chữ, số theo phương pháp giáo dục truyền thống, cụm từ “giáo dục sớm” đã ngày càng phổ biến và được nhiều phụ huynh săn lùng tài liệu tìm đọc, săn lùng trường cho con học. Giáo dục sớm đã là phương pháp được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn, ứng dụng như Mỹ, Nhật, Italy, Phần Lan, Pháp, Canada… Tại Việt Nam, khoảng 4-5 năm trở lại đây, giáo dục sớm cũng đã từng bước đến với cộng đồng, đặc biệt tại các thành phố lớn như: Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng… Phụ huynh tìm đến giáo dục sớm bởi phương pháp giảng dạy rất phù hợp với trẻ nhỏ, khai mở và kích hoạt tối đa khả năng tiềm ẩn trong tư duy con trẻ một cách tự nhiên nhất, không cưỡng bức, không ép buộc, không nhồi nhét.

Một trong những thành quả khác biệt đơn giản nhất giữa trường giáo dục sớm và trường truyền thống là khả năng nhận biết chữ, số của học trò giáo dục sớm là 1,5 đến 3 tuổi, trong khi trường truyền thống là 4,5-5,5 tuổi. Trẻ được đào tạo theo phương pháp giáo dục sớm tự tin hơn, vốn từ vựng, hiểu biết về thế giới xung quanh, khả năng phân tích, chủ động trong tư duy, kỹ năng tự phục vụ bản thân tốt hơn. Cốt lõi của thành quả khác biệt giữa 2 nhóm trẻ nằm ở phương pháp giảng dạy, cách truyền đạt kiến thức, kỹ năng.

Những kỹ năng gì trẻ tiền tiểu học cần?

- Nhóm kỹ năng tự phục vụ bản thân:

Những kỹ năng tưởng như rất đơn giản, thế nhưng ở bậc mầm non, đặc biệt trẻ ở các thành phố lớn, rất nhiều trẻ “bị tước quyền” tự phục vụ. Con khó có cơ hội được tự làm, có thể tự làm khi bố mẹ, ông bà, cô giáo “làm hộ” hết rồi.

Nhóm kỹ năng tự phục vụ gồm: tự ăn uống; tự mặc quần áo, đi giày dép; tự sắp xếp đồ dùng cá nhân: sách vở, đồ dùng học tập; tự biết đi vệ sinh; tự gấp quần áo, chăn màn khi ngủ dậy; tự học bài…

- Nhóm kỹ năng giao tiếp, bày tỏ quan điểm, diễn đạt ý tưởng, thói quen cảm ơn, xin lỗi, chia sẻ…

- Nhóm kỹ năng xử lý tình huống khi gặp trở ngại bất ngờ: bị chảy máu, bị ngã xử lý sơ giản thế nào; bị bạn đánh mách cô ra sao, chẳng may đi lạc thì làm thế nào…

- Làm quen với người lạ, thích nghi trong môi trường mới: Trong trường hợp này, bố mẹ có thể cho con làm quen với trường mới bằng cách đưa bé đến trường tiểu học chơi vào cuối giờ trong ngày, giới thiệu cho con không gian trường mới, lớp mới; nói cho con nghe, đây là ngôi trường mà sắp tới con sẽ học; giải thích cho con những khác biệt giữa trường mầm non và tiểu học…

Nếu cho con học thêm bất kỳ nội dung nào ở bên ngoài, cần chọn đơn vị có phương pháp giảng dạy tốt, đội ngũ giáo viên được đào tạo kỹ lưỡng (tối nhất nên dự một tiết học để cảm nhận khi bạn chưa hề biết đến đơn vị đó).

Nên trang bị gì cho con trước khi vào lớp 1?

Khoảng cách về chương trình học, phương pháp học, thời gian biểu giữa bậc mầm non và tiểu học của chúng ta khá xa nhau. Đó là lý do rất nhiều trẻ mầm non bị sốc tâm lý, rất khó thích nghi trong học kỳ đầu, thậm chí là cả năm lớp 1 vì chưa thể thích nghi ngay được. Giải pháp tối ưu nhất vẫn là được bố mẹ đồng hành hướng dẫn con từ nhỏ. Không nên trông đợi vào một vài khóa học bên ngoài trước khi vào lớp 1 có thể hô biến con trẻ. Kết quả giáo dục phải là cả một quá trình công phu.

Quan điểm để trẻ phát triển tự nhiên không có gì sai, nhưng cũng không nên tự nhiên quá. Một em bé không được uốn nắn, hướng dẫn kỹ lưỡng thì khả năng thích nghi, học hỏi, tự vệ trong môi trường lạ rất hạn chế.

Vì vậy, trước khi vào lớp 1, trẻ cần là được trang bị các nhóm kỹ năng sống như phân tích ở mục 3 và 4 quan trọng hơn cả việc nháo nhào con đi học chữ, tập đọc bên ngoài. Vội vã ắt hỏng việc lớn, giáo dục không thể cấp tập. Gốc rễ của dạy mầm non bắt nguồn từ gia đình, bố mẹ chứ không phải ai khác, chính là người thầy đầu tiên, quan trọng nhất tạo nên thành công của trẻ.

Không nên chọn trường cho con theo tâm lý 'nghe đồn'

"Bố mẹ không nên chọn trường cho con vì nghe đồn rằng đó là trường điểm, rất tốt mà không biết môi trường giáo dục ở đó có phù hợp với con mình hay không", nhà quản lý giáo dục Hoàng Tùng chia sẻ.
Trong hội thảo "Định hướng tốt nhất cho con vào tiểu học và THCS" được tổ chức cuối tuần qua, doanh nhân, nhà quản lý giáo dục Hoàng Tùng (Giám đốc một trường tiểu học song ngữ ở Hà Nội) cho rằng, không phải bỏ ra một món tiền lớn cho con đi học đã là hiệu quả.



Để đầu tư cho con chính xác, theo ông Tùng, phụ huynh cần dành thời gian để hiểu chính con mình bởi mỗi đứa trẻ có tâm lý, sự nhận thức và phát triển khác nhau. Bố mẹ phải biết được sự phát triển tinh thần và thể chất, khả năng tiếp cận và thế mạnh của con là gì để có lựa chọn chính xác.

"Cha mẹ không nên chọn trường cho con theo tâm lý nghe đồn, rằng trường đó tốt, là trường điểm, trường hot, mà không biết ngôi trường đó liệu có phù hợp với con mình hay không?", ông Tùng nói và khẳng định khi phụ huynh còn mơ hồ với khả năng của con thì cho con học đa dạng phát triển văn thể mỹ, ngoại ngữ là lựa chọn tốt nhất.

Bản chất của giáo dục cuối cùng phải là chất lượng của học sinh, chất lượng của đội ngũ giáo viên và chương trình đào tạo. Nhưng hiện nay nhiều trường có yếu tố nước ngoài hoặc tư thục chất lượng cao đang thu học phí rất đắt do phải gánh chi phí lớn như thuê mặt bằng, trả lương cho hệ thống vận hành... Để có lợi nhuận cần 5-10 năm mới có thể thu lại, đó là thời gian khá lâu nên không ít nhà đầu tư đẩy nhanh lợi nhuận bằng cách thu nóng.

"Để thuyết phục và tạo choáng ngợp cho phụ huynh thì cách phổ biến vẫn là làm hình ảnh hào nhoáng, phòng học đẹp, sang trọng, còn đầu tư vào chất lượng giáo dục thực chất, việc chuyển tải kiến thức đến trẻ như thế nào, suy nghĩ và hành động của trẻ chuyển biến tích cực, thì cần một thời gian để chứng minh. Nhưng không phải nhà đầu tư nào cũng kiên nhẫn, kiên định với quan điểm giáo dục mình đưa ra ban đầu", ông Tùng nhấn mạnh.

Với kinh nghiệm làm bố của ba đứa con, ông Tùng chia sẻ cha mẹ không nên nghe ngóng trên các diễn đàn và lời đồn mà cần gọi điện, đến tận trường để tìm hiểu, xem cách ứng xử của họ như thế nào. Sự ngăn nắp và chuyên nghiệp sẽ được thể hiện ngay từ phòng tuyển sinh, nhân viên văn phòng. Khi đến, cha mẹ cũng cần trao đổi với những phụ huynh hiện tại của trường, nhìn ứng xử của giáo viên với học sinh và với phụ huynh, ứng xử của học sinh với nhau. Đó là những căn cứ cơ bản để nhận biết về môi trường giáo dục.



"Bố mẹ hãy tạm quên việc chạy trường mà hãy đến những đơn vị giáo dục phù hợp về địa lý, chất lượng giáo dục, phù hợp với tài chính của gia đình vì nuôi con là chặng đường rất dài. Các trường điểm luôn quá tải học sinh, cô và trò đều chịu áp lực nên phụ huynh cần tránh tạo sức ép bằng cách nhao nhao theo phong trào bởi trường thương hiệu yếu hơn không phải là nỗi lo sợ", ông Tùng nói.

Một lưu ý mà nhà quản lý giáo dục này muốn nhắn nhủ với phụ huynh là không nên đầu tư cho việc học hành của con vượt quá khả năng tài chính bởi như vậy là mạo hiểm. Khi quá sức về tài chính, sẽ đến lúc phụ huynh phải cắt giảm đầu tư, con bị chuyển xuống môi trường giáo dục có chất lượng kém hơn. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thích nghi của trẻ, tạo ảnh hưởng không tốt, thậm chí ảnh hướng đến sự phát triển lâu dài của trẻ. Mức đầu tư cho việc học hành của con khoảng 30% tổng thu nhập là phù hợp.

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2015

15 Bí quyết chăm sóc trẻ sơ sinh đúng cách

Chăm sóc trẻ sơ sinh đúng cách luôn là mối quan tâm của những người làm mẹ, đặc biệt là của những chị em lần đầu làm mẹ. Mời các bạn cùng tham khảo những lời khuyên sau đây để giúp chị em làm mẹ thật là vui khỏe và hạnh phúc nhé!

Tư thế nằm ngủ, giường đệm và thói quen đúng của người chăm sóc là 3 yếu tố giúp bé ngủ ngon, không gặp nguy hiểm. Dưới đây là một số lưu ý chăm sóc trẻ sơ sinh theo hướng dẫn của nữ hộ sinh Trần Thị Mỹ Linh, Bệnh viện Hùng Vương, TP HCM.

1. Chăm sóc giấc ngủ cho trẻ


Giấc ngủ của trẻ đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển thể chất cũng như tinh thần, vì vậy bà mẹ cần chăm sóc tốt giấc ngủ cho bé. Thời gian ngủ trung bình của trẻ sơ sinh là 18-20 giờ một ngày.
15 Bí quyết chăm sóc trẻ sơ sinh đúng cách


Tư thế nằm ngủ, giường đệm và thói quen đúng của người chăm sóc bé là 3 yếu tố giúp bé ngủ ngon và không gặp nguy hiểm. Cần tránh cho bé nằm sấp. Tất cả nghiên cứu giấc ngủ của trẻ đều cho thấy tư thế nằm sấp làm tăng nguy cơ tử vong đột ngột ở trẻ sơ sinh. Trên thực tế, bé chưa đủ khả năng xoay người hoặc nhổm dậy khi gặp vấn đề như bị ngạt, gối đè…
Đặt bé nằm ngửa là tư thế ngủ tốt nhất cho bé theo khuyến cáo của các bác sĩ nhi khoa. Nằm ngửa giúp khuôn mặt bé thoải mái, bé dễ hô hấp và tránh cho bé nguy cơ bị ngạt trong đống chăn gối. Khoảng tháng thứ 6, bé đã biết nhổm đầu, lật nghiêng sang một bên. Đừng lo lắng nếu bé xoay người khi ngủ, điều đó có nghĩa là bé đã có đủ sức để lựa chọn một tư thế tốt nhất cho mình.
cach-cham-soc-tre-so-sinh-10Nhiều cha mẹ thường hay rung lắc giúp bé dễ ngủ hơn, tuy nhiên cần lưu ý vì hành động này khiến não của bé dễ bị tổn thương.
Cần tuyệt đối giữ trẻ trong môi trường không có khói thuốc lá. Hút thuốc thụ động có hại cho mọi người, đặc biệt là các em bé, khói thuốc lá gây ra các vấn đề về hô hấp và bệnh viêm phế quản.
Nên giữ nhiệt độ trong phòng bé trên 26 độ C. Nếu quá nóng, nhiệt độ cơ thể sẽ tăng lên, gây nguy hiểm cho bé. Quá lạnh sẽ làm bé dễ bị cảm lạnh, viêm đường hô hấp. Nên cho bé nằm cạnh mẹ, giúp cho việc theo dõi và cho con bú dễ dàng hơn.


2. Chăm sóc vệ sinh cho bé


Tắm là một phần không thể thiếu trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng bé. Tắm cho bé đúng cách có thể giúp bé cảm thấy thoải mái, dễ chịu và có một giấc ngủ ngon.
Với những bé chưa rụng rốn có thể tắm bằng khăn, dùng khăn nhúng nước sạch và lau toàn thân bé. Đối với bé đã rụng rốn rồi có thể tắm bằng chậu. Không nhất thiết mỗi ngày phải gội đầu cho bé, ngoại trừ khi thời tiết nóng. Khi trời lạnh chỉ nên gội đầu bé 2-3 lần một tuần.
Vệ sinh mũi và tai: Không nên ngoáy bên trong mũi và tai em bé, chỉ cần làm sạch tai bằng cách sử dụng bông gòn thấm nước ngoài tai vì ráy tai là dịch tiết tự nhiên ở ống tai ngoài, có tính khử trùng và bảo vệ màng nhĩ khỏi cát bụi.
Vệ sinh móng tay, chân: Không nên để móng tay, chân bé quá dài, bé sẽ tự cào xước da mình. Thời gian cắt móng tay cho bé là sau khi tắm, lúc này móng tay bé mềm.

3. Cách bế và đỡ bé


sơ sinh, ăn dặm, giấc ngủ
Bạn có thể chọn một vài cách an toàn và thoải mái để bế một em bé sơ sinh. Dù tư thế bạn chọn là gì thì bạn phải luôn đỡ đầu bé vì cổ của bé chưa đủ cứng cáp để có thể giữ được đầu.
– Bắt đầu bằng cách đặt bé nằm ngửa và dùng hai cánh tay bế bé lên, một tay đỡ phía dưới trong khi tay kia có thể để thoải mái.
– Dùng cánh tay đỡ đầu bé còn phần bàn tay đỡ phần mông. Cánh tay kia của bạn bây giờ có thể hỗ trợ hoặc vuốt ve bé nhẹ nhàng.


4. Cho con bú 


sơ sinh, ăn dặm, giấc ngủ
Trẻ sơ sinh thường ăn 3-4 giờ một lần, thậm chí một số trẻ cứ hai tiếng lại ăn một lần.
Trẻ sơ sinh bú sữa mẹ sẽ ăn thường xuyên hơn trẻ bú bình vì sữa mẹ dễ tiêu hóa. Khi lớn lên, bé sẽ ăn ít hơn nhưng bữa ăn của bé sẽ kéo dài hơn.
Em bé của bạn sẽ cho bạn biết khi nào bé đã no, cách dễ nhận thấy nhất là bé từ chối núm vú hoặc bình sữa.

Vì trẻ sơ sinh khỏe mạnh hiếm khi bị mất nước, nên không cần thiết phải bổ sung nước lọc hay nước trái cây cho con.
Trên thực tế, lượng sữa mẹ hoặc sữa bình cũng đáp ứng tất cả các nhu cầu nước của trẻ sơ sinh trong vòng ít nhất sáu tháng đầu đời.
Nếu bạn nghĩ rằng em bé của bạn có thể bị mất nước, hãy xem những dấu hiệu như: hôn mê, đi tiểu ít hơn 8 lần một ngày, từ chối ăn, da khô, sẫm màu…
Trong những trường hợp nghiêm trọng hơn, một điểm mềm trũng sẽ xuất hiện trên đỉnh đầu của bé.

5. Giúp bé ợ hơi


Trẻ sơ sinh có xu hướng nuốt không khí trong khi đang bú, khiến các bé bị ợ thức ăn lên hoặc trở nên khó tính nếu không được ợ hơi thường xuyên vì bị đầy bụng.
Hãy thử ba phương pháp giúp bé ợ hơi nói chung.
– Bé đứng em bé dựa vào cổ của bạn. Vỗ nhẹ vào lưng bé bằng bàn tay kia. – Để em bé nằm sấp trên đùi của bạn và vỗ nhẹ tay vào lưng bé.
– Cho em bé ngồi trong lòng, đỡ ngực và đầu rồi vỗ vào lưng bé.

6. Cho bé ngủ


Một số trẻ sơ sinh ngủ 10 tiếng một ngày, trong khi những trẻ khác ngủ nhiều tới 21 giờ mỗi ngày.
Các bé thường ngủ cả đêm và ngày trong vài tuần đầu tiên. Hơn nữa, hầu hết các bé không ngủ suốt đêm cho đến khi khoảng bốn tháng tuổi.
Để điều chỉnh thói quen, mẹ hãy cho trẻ sơ sinh thức vào ban ngày và ngủ vào ban đêm, các mẹ hãy thử những cách dưới đây:
– Tránh để chỗ ngủ của con có quá nhiều ánh sáng hoặc thay tã ban đêm quá lâu. Hãy chắc chắn đưa bé của bạn nằm ngủ lại ngay sau khi cho ăn và thay tã vào ban đêm.
– Nếu con bạn ngủ lâu hơn ba hoặc bốn giờ ban ngày, hãy gọi bé tỉnh dậy và chơi với bé. Vì khi bé ngủ quá nhiều lúc sáng, tối đến bé sẽ khó ngủ hơn.
– Đặt bé nằm trên một tấm nệm phẳng và chắc. Không để các vật mềm, mịn như gối, thú nhồi bông xung quanh khi bé đang ngủ.
Mặc dù có vẻ như vô hại, nhưng các sản phẩm này có thể làm tăng nguy cơ tử vong do ngạt thở.


7. Dỗ bé nín khóc


Với trẻ sơ sinh, nguyên nhân khiến bé khóc không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nếu bạn đã thay đổi phương pháp mà con bạn vẫn khóc, hãy thử các cách dưới đây.
– Cho con ợ hơi thường xuyên, ngay cả khi bé không có cảm giác khó chịu. Nếu bạn cho con bú, hãy cho bé ợ mỗi lần chuyển bầu ngực. Nếu trẻ bú bình, cho bé ợ hơi sau khi ăn 60 hoặc 90ml sữa bột. Ngưng cho bú nếu bé khó chịu hoặc quay đầu từ chối núm vú hoặc bình sữa.
– Đu đưa bé trong vòng tay bạn từ bên này sang bên kia. Ca hát, nói chuyện cũng có làm bé ngừng khóc.
– Hãy đặt con vào xe đẩy và đi dạo. Việc chuyển động cũng có tác dụng làm dịu trẻ sơ sinh.
– Cho bé tắm nước ấm.

8. Tạm biệt khăn giấy ướt


Mặc dù các loại khăn giấy ướt cho trẻ sơ sinh được bày bán khắp mọi nơi nhưng bạn thật sự không cần dùng đến chúng đâu. Không chỉ tốn kém mà các loại giấy ướt để vệ sinh cho bé còn bị nghi ngờ có thể làm hại đến làn da nhạy cảm của trẻ sơ sinh.

15 Bí quyết chăm sóc trẻ sơ sinh đúng cách 1


Đặc biệt những bé được nuôi bằng sữa mẹ có phân lỏng, ít acid và vi khuẩn, còn nước tiểu của bé thì loãng nên không cần dùng đến các loại khăn giấy ướt có tẩm hóa chất để lau chùi cho bé. Thay vào đó bạn hãy dùng những khăn vải xô lau nhẹ nhàng cho bé, sau đó giặt sạch để lần sau dùng tiếp.

9. Không sợ bé tè tràn tã


Việc thay tã cho bé buổi tối hẳn là “ác mộng” với nhiều người.
Do đó, bạn nên cho bé mang tã dùng ban đêm hoặc mặc thêm một lớp tã vải bên trong.
Cách này sẽ ngăn được tình huống bé tè tràn tã.

10. Chẳng cần đến giày


Cho đến khi bé biết đi và thường hay ra ngoài, bạn không cần phải mua giày cho bé. Những đôi giày của trẻ con quả là rất xinh xắn nhưng tốt hơn là bạn để dành tiền cho những thứ quan trọng hơn.
Thay vào đó, các loại vớ cho trẻ sơ sinh lại rẻ và tiện dụng hơn nhiều.

11. Cẩn thận với “vòi phun nước” của bé


Điều này đặc biệt dành cho những mẹ có con trai nhé. Khi bạn tháo tã cho bé, bé có thể bị lạnh đột ngột ở vùng kín và sinh ra phản xạ là … tè!
Vì thế, nhớ tháo tã chậm rãi để tránh nước tiểu của bé tung tóe khắp nơi. Bạn cũng có thể bọc bên trong một lớp tã vải mỏng để thấm nước tiểu của bé trước khi nó văng vào mặt và mắt của bạn.

12. Đừng ngại ôm ấp con nhỏ


Bạn có thể đã nghe nhiều người bảo rằng không nên ôm ấp con suốt ngày để bé không quên hơi mẹ. Tuy nhiên, nên nhớ rằng dù bạn có ôm ấp con bao lâu đi nữa cũng không thể làm hư bé.
Dạy cho con tính tự lập và xa rời con là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Bạn nên để bé cảm nhận được rằng bé là thành viên gia đình được mọi người yêu thương và trân trọng.

Bí quyết chọn sữa cho từng độ tuổi của bé

Việc chọn sữa cho trẻ theo độ tuổi tưởng chừng như dễ mà lại không hề đơn giản chút nào đâu nhé, nó vô cùng quan trọng và ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ các mẹ cần chú ý.

Bí quyết chọn sữa cho từng độ tuổi của bé


Lựa chọn sữa cho trẻ dưới 6 tháng tuổi


Dùng các loại sữa công thức I: Các loại sữa này có thành phần chất dinh dưỡng gần với sữa mẹ với tỷ lệ cân đối, phù hợp với sự hấp thu và chuyển hóa ở trẻ, ít gây nên tình trạng rối loạn tiêu hóa.

Ở lứa tuổi này không nên dùng sữa bò tươi, sữa đặc có đường, sữa bột nguyên kem hoặc các loại sữa bột công thức dành cho trẻ trên 6 tháng. Khi mua sữa bạn phải xem hạn dùng và pha sữa đúng theo tỷ lệ hướng dẫn ghi trên vỏ hộp.

Chỉ nên dùng nước để pha (nước đun sôi để nguội bớt) không được dùng nước sôi hoặc đun sôi sữa vì sẽ làm mất hoặc hao hụt các vitamin và khoáng chất có trong sữa.

Số lượng sữa uống hằng ngày tùy theo từng tháng tuổi:


- Trẻ sơ sinh (1 tháng tuổi): 60 - 80 ml/bữa x 7 - 8 bữa/ngày (500-600 ml/ngày).

- Trẻ từ 2 - 4 tháng tuổi: 100 - 120 ml/bữa x 6 - 7 bữa/ngày (700 - 800 ml/ngày).

- Trẻ 5-6 tháng: 150 - 180 ml/bữa x 5 - 6 bữa/ngày (800 - 1000 ml/ngày)

Lựa chon sữa cho bé từ 6 đến 12 tháng tuổi (sữa công thức 2)


Giai đoạn này bé đã bắt đầu ăn dặm, hệ tiêu hóa của bé đã dần hoàn thiện, hơn nữa bé bắt đầu vận động nhiều nên nhu cầu dinh dưỡng của bé cũng lớn hơn. Bé cũng được bổ sung dinh dưỡng qua nguồn thức ăn dặm nên nhu cầu sữa không phải là thiết yếu nữa.

Tuy nhiên, vào giai đoạn này cũng là thời điểm mẹ bắt đầu phải đi làm nên không có nhiều thời gian cho bé bú nữa, việc bổ sung sữa công thức để đảm bảo bé được cung cấp đầy đủ dưỡng chất là rất cần thiết.

Sữa công thức 2 thường có hàm lượng chất đạm cao hơn, bổ sung một số chất tăng cường hệ miễn dịch của bé đồng thời vẫn đảm bảo các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của bé.

Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo nên bổ sung sữa công thức 2 với lượng khoảng 500 – 600ml/ngày, chía làm 3 bữa để bé được cung cấp đủ dưỡng chất.

Chọn sữa cho bé từ 1 đến 5 tuổi (sữa công thức 3)


Giai đoạn này, các bé đã ăn được phần lớn các loại thực phẩm, được cung cấp đầy đủ dưỡng chất qua thức ăn nên nhu cầu sử dụng sữa công thức không lớn như giai đoạn trước.

Bí quyết chọn sữa cho từng độ tuổi của bé 2


Tuy nhiên, vì bé phải trải qua nhiều lần chuyển tiếp chế độ ăn cũng như những giai đoạn biếng ăn của trẻ nhỏ nên các chuyên gia khuyến cáo nên cũng cấp cho bé khoảng 500 ml sữa công thức 3/ngày để đảm bảo dưỡng chất cho bé.

Với những bé không chịu uống sữa công thức, các mẹ có thể cho bé uống các loại sữa tươi thanh tùng, tiệt  trùng, sữa bột nguyên kem, sữa chua, váng sữa, phô mai… để thay thế.

Chọn sữa cho bé từ 6 đến 14 tuổi


Vào giai đoạn này thì duy trì uống sữa cho bé tùy thuốc vào sức khỏe, nhu cầu của bé cũng như điều kiện của bố mẹ.

Mặc dù bé đã được bổ sung dinh dưỡng qua thực đơn ăn hàng ngày nhưng với những tác dụng tuyệt vời của sữa thì các chuyên gia dinh dưỡng vẫn khuyên các bố mẹ nên khuyến khích bé uống khoảng 400ml sữa/ ngày hoặc các sản phẩm từ sữa như sữa chua, váng sữa, pho mai....

Hiện nay, trên thị trường có những loại sữa công thức, sữa tươi cung cấp dưỡng chất cho trẻ em theo từng giai đoạn.

Nếu bé sinh ra hoàn toàn bình thường (không sinh non, không nhẹ cân, không có bệnh lý đặc biệt nào liên quan đến hấp thụ dinh dưỡng) thì bạn có thể tham khảo các loại sữa công thức và chọn loại hợp với giai đoạn phát triển của bé nhà mình.

Lưu ý khi chọn sữa cho trẻ



Chất lượng là tiêu chí quan trọng khi mẹ quyết định chọn mua một sản phẩm. Đối với sữa cho trẻ sơ sinh thì vấn đề này càng trở nên quan trọng và phải được đặt lên hàng đầu.

Chất lượng ở đây là mẹ cần biết rõ nguồn gốc xuất xứ của loại sữa sẽ cho con mình uống. Trên thị trường có nhiều loại sữa với rất nhiều xuất xứ khác nhau, khi chọn sữa mẹ nên tìm đến những cửa hàng hay siêu thị uy tín để chọn, tránh mua phải hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng.

Nếu mẹ vẫn băn khoăn không biết chọn loại nào tốt nhất thì nên nhờ tư vấn của bạn bè, người thân, những người đã có kinh nghiệm, hoặc tư vấn của người bán hàng. Tốt nhất là nên lựa chọn những loại sữa có tên tuổi, uy tín.

Chất lượng của mỗi loại sữa còn phụ thuộc vào cả thành phần của sữa. Khi chọn sữa mẹ cần chọn những loại sữa có thành phần dinh dưỡng cần thiết, phù hợp và hỗ trợ sự phát triển toàn diện của bé như: đạm, đường, axit béo, DHA, ARA, Chonine, vitamin,… Những chất này không chỉ giúp bé khỏe mạnh mà còn giúp bé phát triển cả về trí tuệ, …

Cách chọn sữa cho bé có mùi vị dễ uống, thích hợp với trẻ


Đối với trẻ sơ sinh việc chọn mùi vị của sữa tưởng chừng như không quan trọng. Vậy nhưng nếu mùi vị sữa quá khó uống thì trẻ sẽ phản ứng lại ngay đấy. Vậy nên tốt nhất là mẹ nên chọn những loại sữa có mùi vị phù hợp, dịu nhẹ với trẻ em.

Bí quyết chọn sữa cho từng độ tuổi của bé 1

Cách chọn sữa cho bé phù hợp với điều kiện kinh tế gia đình


Với quan niệm sữa càng đắt thì càng tốt nên nhiều gia đình dù không có điều kiện vẫn cố mua loại sữa đắt tiền cho con. Việc làm này không sai nhưng mẹ không nên, trẻ sẽ quen loại sữa đó, và sau mẹ bắt buộc phải mua loại sữa đó cho con.

Trong trường hợp mẹ không còn khả năng mua thì sẽ dẫn đến hiện tượng bé không uống sữa nữa. Vậy nên mẹ cần phải cân nhắc trước khi mua sữa. Không phải cứ sữa ít tiền, sữa nội thì không tốt đâu mẹ nhé.